Xem thêm :
Tản mạn về chú cẩu
Phụ Đính Bài Ăn Thịt Chó
Viết tặng các bồ tèo...các CHS TH CC JdA
Thân mến, NQ Bảo
Ăn Tết…
Nguyễn Quốc Bảo
Quân tử mưu đạo bất mưu thực.
君子謀道不謀食
Người quân tử mưu đạo không
mưu ăn.
Đó là sách
Luận ngữ chép chuyện Vệ Linh Công, thế
nhưng người xứ ta nôm na lại nói
ngược Có thực mới vực được
đạo! Thật là đạo thánh hiền sao bì được với lý lẽ dân gian, chúng tớ Ăn sáng, Ăn trưa, Ăn tối, mà cũng Ăn…Tết luôn.
Chuyện chi rồi
cũng phải Ăn. Tên mắc chứng Hoàng Lão
Tà mở miệng nói Ăn, mà cũng viết
một tạp văn đáo để Ăn sáng ở
nước Sài Gồng, làm tôi cũng xuất
một loạn văn Ăn trưa rồi lại viết
cẩu văn Ăn thịt chó. Cho nên miếng Ăn
như tôi đã dẫn, các cụ nói là
miếng tồi tàn, nhưng dân mình không ăn,
quê mùa nói là đánh chén, thì có
chuyển khỉ gì để mà nói với nhau.
Tây thì Mừng Tết, celébrer le Nouvel An,
Tàu nói Mừng Xuân Tiết 春节
chūn jié, mặc kệ Tây Tàu, dân mình
thì phải nói Ăn Tết. Tết mà không Ăn không uống thì đâu phải Tết!
Vậy thì Tết
là cái giống gì mà mà con Rồng cháu
Tiên phải rù rì, hân hoan, náo nhiệt
Ăn…? Chữ Tết do hán tự Tiết,
phồn thể viết 節 giản thể viết 节,
bộ trúc 竹, tiếng quan thoại đọc
là jié tiết. Tiết nghĩa chính là
đốt, như đốt tre đốt xương.
Tiết cũng như thời tiết, mỗi năm chia 24
tiết, như xuân phân, lập phân (*); tiết
cũng là ngày thọ của Vua. Tết Tàu kêu
Xuân Tiết. Tiếng Việt ta kêu Tết! Mà
Tết, tháng giêng là tháng Ăn Chơi, thì phải Ăn…và Chơi chứ!
Xứ mình 4000
năm Văn hiến, Tết ta cũng 4000 năm lịch
sử. Muôn sự đều khởi nguyền từ
văn minh nông nghiệp, mà khởi đầu cho
nông lịch niên là ngày Tết, truyền
thống trong dân gian ăn mừng, tượng trưng
cho hưng vượng, đoàn kết gia đình xã
hội, hy vọng tràn trề cho năm mới.
Người ta ăn Tết từ thời Ngu Thuấn Yu Shun,
2000 năm trước Công nguyên, một ngày
trời đẹp vua Thuấn, tức Thiên tử vị,
cùng bộ hạ lập đàn tế bái Thiên
Địa. Sau đó dân gian coi ngày đầu
năm là ngày 1 tháng Giêng, nguyên thủy
của tân nguyên nông lịch, đời sau gọi
là Xuân Tiết tức Tết Xuân. Trong quá
khứ, tết còn gọi là Nguyên
Đán 元旦, tháng giêng ta gọi là
nguyên nguyệt 元月!
Thế nhưng bên
Tàu, trải qua nhiều thời đại, phương
cách định ngày tết cũng lộn xộn,
không nhất trí. Hạ triều dùng tháng
đầu Mùa xuân nguyên nguyệt (tháng giêng)
là chính nguyệt, trong khi Thương triều lại
dùng tháng mười hai, Tần Thủy Hoàng sau khi
thống nhất lục quốc dùng tháng mười,
thời Sơ Hán tiếp tục dùng Tần lịch
(Tết tháng 10) cho đến đời Hán Võ
Đế Lưu Triệt, vua thấy cách dùng lịch
kỷ quá loạn, bèn ra lệnh đại thần
Công Tôn khanh và Tư Mã Thiên tạo ra Thái
Dương Lịch, quy định nông lịch (tức
âm lịch) chính nguyệt là tháng giêng,
ngày đầu tháng giêng là ngày đầu
năm, tức ngày tết (nguyên đán).
Từ đó về sau cho tới Thanh triều, nước
Tàu xài hạ lịch 夏历 hay âm lịch
阴历 (xưa gọi nông lịch 农历),
được hết thảy 2080 năm cho tới khi Sun Yat-Sen
khởi xướng dùng âm lịch đồng thời
với dương lịch, nước Tàu bắt
đầu ăn 2 Tết!
Ngày tết mồng
một tháng giêng âm lịch, tục xưng
quá niên 过年, niên đây
là một động vật tưởng tượng
đem tới những xui xẻo trong năm! Niên lại
thì cây cối điêu tàn rã rượi,
bách thảo bất sinh; niên đi (quá niên),
vạn vật sinh trường, hoa tươi nở
đầy đồng! Phải dùng pháo nổ
đùng đùng mới có tài năng để
đưa niên đi, do đó ta có tập tục
đôt pháo đầu năm!
Ngày tết Nông
lịch nhiều tên cổ xưng là nguyên nhật
(ngày mồng một, nguyên nguyệt là tháng
giêng), nguyên thìn (thần, thìn 辰 chi thứ
năm trong 12 chi, ngày giờ đều gọi là
thần, thìn; giờ thìn 7:00-9:00AM), nguyên chính,
nguyên sóc (sóc 朔 là mới, ngày mồng
một), nguyên đán
(sáng sớm gọi là đán 旦).
Nguyên do thay đổi
ngày tháng tết là bởi vua chúa dựa
trên ngày giờ tạo thiên lập địa mà
suy định nguyên nguyệt. Đọc trên
Net Bách khoa Toàn Thư: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người. Cho nên Hạ triều chuộng màu đen và chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Thương Triều thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Đời nhà Chu, ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng nguyên đán. Tần lịch dùng tháng mười tức tháng Hợi. Hán Võ đế và Hạ triều đều dùng tháng Dần tức tháng giêng!
Cũng theo
Net Bách Khoa Toàn Thư: Đến đời
Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày
tạo thiên lập địa có thêm giống
Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy tháng giêng (8 ngày). Sách Genèse trong Cựu kinh ước Ky Tô Giáo lại kể Thượng Đế đã dựng vũ trụ và vạn hữu chúng sanh trong 7 ngày!
Xuân đến,
thảo mộc thiên hình vạn tượng đều
đổi mới, canh tân, là dịp để ăn
mừng đủ mọi chuyện. Dân Việt mình
hảo Ăn lắm. Dịp nào cũng tốt để
ăn cả. Tháng 12 Dương lịch, cũng theo
lịch duyệt Tây phương Ăn Rê Vây Ông (réveillon) No En Kít Mớt, tiếp đó là Ăn Tết Tây, Rê vây ông Sanh Xin Vớt (Saint Sylvestre). Nguời Tây nói Nô En là ăn trong gia đình, còn Tết Tây là Ăn ngoài phố. Mười hai giờ đêm, lúc giao thừa, xe cộ có quyền bấm kèn tùm lum nghe chói tai, ra phố gặp mấy cô tóc vàng mắt xanh mũi lõ, có quyền ôm hôn chùn chụt, miệng nói Bon Nan Nê (Bonne Année).
Ở quê nhà, dân ta
sau một năm làm việc quần quật vất
vả, phải nghỉ ngơi xả hơi. Chiều ba
mươi Tết, lo bỏ bánh chưng bánh tét
vào nồi, canh đúng bánh chín mười hai
giờ đêm để Ăn giao thừa. Rồi
thì cúng Ông Bà tổ Tiên và Ăn tết!
Đầu năm ăn uống linh đình rồi,
trong năm lại thiếu chi dịp,
Ăn cỗ, Ăn giỗ, Ăn tiệc Ăn tùng …. Nào là
Ăn đám hỏi đám cưới, Ăn tân
gia, Ăn thượng thọ, Ăn sinh nhật…,
có trẻ sơ sinh thì Ăn thôi nôi,
Ăn đầy tháng, Ăn đầy năm, cứ
có dịp là phải Ăn…Mấy cô cán
bộ vixi hơ hớ xuân tình đi Ăn liên hoan
về là có mang bầu tâm sự. Dân quê ham
Ăn thì Ăn buổi giỗ, lỗ buổi cày,
Một ngày ăn giỗ, ba ngày hút nước.
Việt Kiều ở
Pháp thì Ăn Cắt tóc đuôi dê (14 Juillet),
lại cũng có dịp ra đường để
ôm hôn mấy nàng tóc vàng mắt xanh,
ở Mỹ lễ Tạ Ơn thì Ăn gà
Tây. Kỳ rồi đến thăm ông anh
được đọc 4 câu thơ Tây Kê Thi
ông tức cảnh sinh tình sáng tác: Thân
cư “Tây Kê” xứ, Khẩu thực
“Tây Kê” nhục, Ngôn dụng “Tây
Kê” ngữ, Bất vi “Tây Kê”
nhân…(**)
Chuyện Ăn
quan trọng lắm, cha mẹ dạy con Ăn
nói lễ phép, Ăn uống chừng mực, Ăn
trông nồi ngồi trông bếp, Ăn lấy
hương lấy hoa, Ăn khoan ăn thai vừa nhai vừa
nghĩ, đường Ăn lẽ ở,.
Dân ba xí ba tú thì lại Ăn nói hồ
đồ, Ăn ốc nói mò, Ăn bất thùng chi
thình, Ăn đổ ăn vãi, Ăn bốc ăn
bải, Ăn la ăn lết, Ăn trộm ăn cướp,
Ăn cắp ăn mày, Ăn ngấu ăn nghiến,
Ăn như hộ pháp ăn nẻ, Ăn như tằm
ăn dâu; có khi bịp bợm Ăn già Ăn non,
Ăn lường ăn quịt, ba sợi dzô thì Ăn
nói huyên thuyên hay Ăn nói tầm bị tầm
bạ, Ăn tham thì Ăn tái ăn tam, Ăn tay ăn
túi; lũ chúng tôi bạn cũ gặp nhau là
cơ hội để Ăn tục nói phét rồi
hẹn nhau Đặng hôm ni Ăn hôm nớ! Các
cô các bà thì Ăn kiêng ăn khem, thất
nghiệp đi Ăn mày Ăn xin.
Do đó Ăn tết cũng chỉ là một dịp, trong muôn một, để dân ta Ăn. Ăn là một hình thức xã hội hóa các biến cố, sự việc sự kiên trong đời sống thường ngày. Vì Ăn quá xá quà xa, nên cổ nhân mới dạy Miếng Ăn là miếng tồi tàn. Nhưng với dân ta, chuyện Ăn là bất khả xâm phạm, thôi thì vứt quách sách luận ngữ đi, đạo quân tử hay không thì cũng phải Ăn cái đã!
Dịp vui Ăn
đã đành, nhưng buồn nhất là
phải đi Ăn đám ma…
Gavilan Springs ngày canh Ngọ tháng Giêng năm Bính tuất (02/10/2006)
(*) 24 Tiết trong năm:
lập xuân, vũ thuỷ, kinh chập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ
lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử
lập thu, xứ thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng
lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn
立春雨水惊蛰春分清明谷雨
立夏小满芒种夏至小暑大暑
立秋处暑白露秋分寒露霜降
立冬小雪大雪冬至小寒大寒
(**) Bốn câu này tôi có diễn ra Hán Nôm cho dzui:
西鸡诗:身居西鸡处,口食西鸡肉,言用西鸡语,不爲西鸡人.
|