Xem thêm :
Ăn Tục Nói Phét
Các bạn thân mến,
Xin gửi đến các bạn bài viết ngắn để đáp lễ bài viết của bạn Quốc Bảo viết về:
"Ăn Tết…"
HẬU…ĂN TỤC NÓI PHÉT
Nguyễn Quốc Bảo
Một vũng nước trong, mười dòng nước đục,
Một trăm người tục, một chục người thanh.
(Ca dao Việt Nam)
Lũ chúng tớ
đây, den tờ men và người thanh cả
đấy, (xin đừng lầm với lũ nửa
người nửa ngợm nửa đười
ươi…), hội viên tích cực của
nhóm ATNP. Oai lắm, nghe đọc tắt là
A Tê En Pê hay Ây Ti En Pi…Bên Tây bây
chừ thất nghiệp nhan nhản, ai xui xẻo mà
chả phải đi A En Pê Ơ, tức là ANPE hay
Agence Nationale Pour l’Emploi để xin tiền trợ cứu thất nghiệp hay ghi tên kiếm việc làm. Bên Mỹ ai mà không nghe tới Ây Ti En Ti, AT & T, công ty truyền thông điện thoại có quá khứ xưa nhất trên thế giới.
Chúng tớ
đây, hội viên lập hội của cái
bang Ăn Tục Nói Phét, ATNP, chỉ có hai
tiêu chuẩn để hoạt động, Ăn
tục và Nói Phét. Một hội viên đắc
lực, mà cũng là bạn tâm giao bạn tri
kỷ Hoàng Lão Tà, đã viết một
đoản văn đặc sắc về dzụ này
rồi. Tưởng là hết chuyện nói, nhưng
khốn thay, đã nhiễm HLT mắc chứng mắc
dịch kinh niên, nên hắn động đậy
là tui đây cũng muốn ngo ngoe! Lại thêm
ông nối khố khác, Hanh Y sinh, viết Imeo khen mà
lại chê, nói hay viết khảo cứu
khô khan, toàn tầm nguyên Hán Việt Anh
Pháp Mỹ bậy bạ. Thế tức là mắng
khéo đã đi xa ra khỏi lệ điều
của hội, nghĩa là ngoài Ăn tục,
cần phải Nói Phét, cho ướt át…
Tên HLT viết về hội, cẩn thận và đầy đủ lắm, thế là còn chuyện chi mà nói? Dạ thưa không đúng, tui cũng mang chút ít máu Bắc kờ, nên cũng có khi lắm mồm lắm miệng, nhanh nhẩu đoảng, nghe ai nói năng bàn cãi, là muốn xà dzô.
Xin phụ đính
chuyện Ăn Tục. Vậy xin hỏi Ăn Thanh thì
như thế nào? Thời cổ, bên Tây
người ta đều ăn bốc cả, nước Pha
lăng xa hay Đế chế La mã, đều ngồm
mgoàm xé thịt bằng tay rồi đút dzô
miệng, súp thì bưng cả tô mà húp,
rượu thì tu cả bình. Như đã dẫn
trong bài Ăn trưa, truyền thuyết kể, mãi
đến ngày mùng 4 tháng 3, năm 1582, vua Henri III,
ăn tối ở hostellerie La Tour d’Argent bên Ba Lê,
mới khám phá ra lần đầu tiên cách
dùng phuộc xét (nỉa ăn), fourchettes, mà mấy
du khách I ta lồ, đem từ Vơ Ni qua. Rồi sau
này, ăn cơm Tây đúng điệu, thì
trên bàn phuộc xét cu tô (nĩa, dao) lắm
lúc nhiều hơn đồ ăn. Nào là phuộc
xét cu tô ăn thịt phải khác phuộc xét cu
tô ăn cá hay đồ biển, bữa cơm có
thịt lẫn cá là đã phải có 4 trự ni
trên bàn rồi. Không được lẫn lộn,
vì hình dạng khác nhau, cu tô ăn cá hơi
bẹp chỉ để khơi ra từng mảnh cá
nhỏ chứ không sắc để cắt, như cu
tô cắt thịt, rồi nữa, thịt và cá
vị khác nhau không thể dùng chung một thứ
được. Nếu có ăn Xịt tếch, thì
lại phải có thêm một con dao thật sắc
để cắt. Xong rồi thì lại phải có
phuộc xét cu tô ăn xà lát, ăn đét
xe…Chưa kể thìa kể muổng, ăn súp,
ăn bánh ngọt, uống cà phê! Nhiều khi
lại có con cu tô riêng để trét bơ
lên bánh mì, hoặc ăn sò ốc hay ét
cạc gô ô bơ, lại có phuộc xét nhỏ
riêng. Đó là chưa kể, nếu có ăn
hải sản tôm cua, thì lại phải chưng
đồ nghề kìm, thọc, móc,.. không khác
chi đồ nghề của bác sĩ giải phẫu! Ly
chén cũng mắm sốt (même chose), bao nhiêu
phuộc xét cu tô thì bấy nhiêu dĩa, thay
xoành xoạch, uống bao nhiêu rượu thì
bấy nhiêu thứ ly, ba dzích là phải có
ly uống nước riêng. Cho nên thấy nĩa dao
ly chén mà chóng mặt là phải! Gặp bữa
ăn đài các, đem chưng diện bộ pháo
kích Ạc dăng tơ ri (argenterie dao nĩa bằng bạc) nữa thi ôi thôi ai tai, đồ dùng quá trịnh trọng, không biết đồ ăn ra sao?
Người trưởng giả
lúc xưa ăn uống linh đình như thế,
rửa chén đọi đã có gia nhân, nấu
nướng thì có kẻ hầu người hạ.
Thời buổi văn minh, có máy rửa chén. Ở
Mỹ bây giờ nhà cửa tốt đẹp, trang
bị nhà bếp cái chi cũng hai trự cả: hai
tủ lạnh, hai máy rửa chén, hai mai kờ rô
wây (microwave), hai máy giặt, hai máy sấy, mà
rồi không hiểu có thay thế được
hết gia nhân không? Máy tính điện tử
chừ cũng có phong trào chíp lưỡng lõi
(!) dual-core chips, lưỡng thẻ đồ thị
(dual video cards), DVD thì phải thu hai lớp,
double layer drive… Cái gì cũng hai mới nhanh,
mới tân tiến. Chuyện hai ni xưa như trái
đất, ngày trước các cụ nhà ta
an nhàn phải có hai vợ,
đại và tiểu lão bà, thì cuộc đời mới ôi sung sướng biết bao!
Đấy có
phải ăn thanh là như thế không? Ở bên
Mỹ, thường chỉ thấy bày một nĩa
một dao, mà trong bữa ăn nhiều khi chỉ thấy
dùng có một tay, trong khi bên Âu Tây, lúc
mô cũng phải dùng cả hai và lúc nào
cũng phải Die hande auf die Tisch Bitte! (hai tay trên mặt
bàn), như bà vợ ông em họ người
Đức, Eva-Maria, hay dạy con lúc còn
nhỏ…Chả bù với mấy ông Mỹ, một
tay ăn, một tay dưới bàn, hễ có chuyện
chi là rút súng nhanh như chớp! Cái văn
hóa Ăn nhậu của người ta như dzậy,
mình cũng phải hiếu chỗ cầu kỳ, có khi
la phọc mơ chi phối lơ phông (la forme domine le fond),
vì cái ăn tinh vi, mỗi thứ mỗi gu, khác
biệt hơn cách ăn nấu hơi hỗ lốn
của Á đông. Đồ ăn sẹc vi trên
dĩa, thì cá thịt đi theo đường cá
thịt, lê ghim (légume)đi theo đường lê
ghim, thậm chí cá thịt bỏ vào miệng
nuốt xong, rôi mới ăn lê ghim. Người
Pháp coi khoai tây hay cơm cũng là lê ghim cả.
Người ta ăn không có nước mắm xì
dầu, trên bàn chỉ thấy có muối hay tiêu.
Món ăn hầm bà làng nhất có lẽ à
Rat a tui (Ratatouille), loại đồ om, như ăn
Rat ta tui Nít xoa (ratatouille niçoise) mùa hè, đủ loai rau mướp om với cà tô mát. Thế nhưng sao bằng cà chén (hay cà bát) của xứ mình om có chút mắm ruốc và lá tía tô! Ăn thì không được làm có tiếng động, tỷ như ăn súp thì không được húp xùm sụp (khổ nhỉ, súp mà không xùm sụp thì còn chi là súp!). Ăn có lỡ loang ra khỏi miệng thì dùng khăn ăn chấm chấm, chứ không được quệt tới quệt lui kỳ cọ.
Bỗng nhớ
đến cảnh một kỷ niệm đã xa, một
buổi chiều tối lập đông bên Nhật
bản, lấy xe lửa từ Kyoto về Đông Kinh.
Đứng đợi xe trên ke tàu, nên ghé vào
ăn một tô mì gói Nhật U đôn. Chỉ
có mì và nước súp nóng. Trước
quầy, các ông bà Nhật đứng ăn,
tiếng húp súp xì xà xì xụp trong buổi
tối nhá nhem, nghe sao thân tình và quyến
luyến biết bao, nghe tiếng húp đồng tình
đồng cảnh mà lòng sinh ấm áp, mì
gói trở nên quyến rũ, ấn tượng còn
dai dẳng mãi đến ngày hôm nay. Ngày xưa,
trong yến tiệc đế chế La mã, khách
được mời ăn uống kỹ lưỡng xong,
phải công khai ợ (roter) để tỏ ý
cám ơn chủ nhà đã cho ăn thỏa thuê.
Thế sao bây giờ lại đổi phong tục, ăn
uống không được ồn ào? Nhậu mà
phải im lìm mặt mũi cứ như đi ăn
đám ma, thì sao còn thụ hưởng
được miếng ngon vật lạ. Trời đất
sinh ra, trẻ thơ bú sữa mẹ xong phải bậc
(burp) một cú, mới tiêu sữa hạ đàm, lớn lên xã hội Âu tây lại bắt ăn mà không được ho he, thế thì có phải phản thiên nhiên không?
Người
phương Tây trước khi biết ăn thanh một
cách bề bộn rườm rà, thì cũng
đã ăn tục, tức ăn bốc, cả mấy
ngàn năm. Cho đến thế kỷ 16, dưới
thời nữ hoàng Catherine de Médicis (1519-1589) với
quý tử, vua Henri III, mới thấy xuất hiện
phuộc xét trong những yến tiệc sang trọng.
Thật ra phuộc xét có từ thời
“Bi-đan-xơ” (Empire byzantin), nhập cảng vào
Ý đại lợi khoảng năm 1056, chủ ý
dùng để ăn...mì (pasta), mà huyền
thoại cứ cho là Marco Polo đem vào Ý vào
thế kỷ 13, nhưng không đúng (1). Mì mà ăn
bốc thì không đặng mà coi bộ lố
lăng, không có thể thống cấp bậc.
Thế nhưng phải đợi đến thế
kỷ 18, mới có bành trướng của phuộc
xét; vua nước Pháp Lỗ Y XIV, thế kỷ 17
vẫn còn ăn bốc! Thời đó, trẻ con,
người lớn, ông già bà già ai cũng
có một con dao mũi nhọn kè kè bên mình,
lúc ăn dùng dao cắt đồ ăn, chích
rồi bỏ vào miệng, ăn xong thì lấy mũi
dao nhọn xỉa răng! Đến nỗi Hồng y
Richelieu thấy dụ xỉa răng này chướng
mắt, mới ra chỉ dụ làm dao ăn đầu
tròn mà chúng ta thấy cho tới ngày nay
(trừ cu tô xịt tếch đầu nhọn hoắc!).
Vào những năm 60, mùa hè tôi hay lên núi
Pi-rê-nê theo mấy ông giữ cừu, lúc ăn,
lấy dao trong túi ra làm vật dụng độc
nhất, ăn xong chùi dao vào quần, gập lại
rồi bỏ túi! Dao này, thường gọi là
le Provençal, có lưỡi bằng thép rất sắc, không bị ôxi (sét) và cán làm bằng gỗ ô li vi ê rất cứng.
Nghĩa là lịch
sử ăn thanh ở phuơng Tây cũng mới có
đây (thế kỷ 16-17), trong khi bên Á châu,
ăn thanh với đũa đã có trên 3,000
năm. Sách “điều khiển học”
(cybernétique) chắc phải nói đũa là phát
minh đầu tiên của nhân loại trên
phương diện điều khiển! Và phát minh
Đũa, từ khuya rồi, cũng đã đưa
thể chế ăn tục (ăn bốc) lên cấp
ăn thanh!
Ở nước ta
đời sống thường nhật hầu như
không thể chia lìa với đũa, sinh hoạt
vật chất lẫn tinh thần đã kết hợp
với đũa một mối duyên bất giải.
Sáng trưa tối đều có đũa làm
bạn. Sử dụng đũa đã có lịch
sử từ Thuợng cổ, thời Thương Trụ (2)
xa xưa, người ta đã dùng đũa để
ăn. Đũa hán tự viết Khoái
tử 筷子 (xin đừng lẫn với âm
khoái 快, như khoái hoạt, khoái khẩu,
nhưng xin quý bạn yên chí, xem phần dưới
đây!), chữ xưa viết Trợ 箸, tục hay
gọi là Khoái nhi筷兒. Hai chữ khoái và
trợ đều bộ Trúc 竹. Gần đây, khi
xuất thổ tàn tích nhà Ân (2),
Ân khư 殷墟 ở thành An dương tỉnh Hà
nam, đã tìm thấy di tích Đũa đồng
(Đồng trợ), và ở tỉnh Hồ nam, đã
tìm ra di tích Đũa xương (Cốt trợ).
Hàn Phi Tử (3) có chép chuyện vua Trụ làm
Đũa ngà (Tượng trợ), Tư Mã Thiên (3)
có kí tải chuyện Đũa ngà vua Trụ trong
sử kí Tống vi tử thế gia. Sách Sử kí
Thập nhị chư hầu Niên biểu chép:
“Trụ vương có đũa ngà, Ki Tử ai
thán, nghĩ rằng vua Trụ dùng đũa ngà
ăn móng gấu, cực kỳ xa xỉ, âu cũng
là điềm vong quốc”. Những dẫn chứng
trên cùng với di tích tìm thấy khi đào
tàn tích đời Ân, chứng tỏ đời
Thương (1700 trước TL) đã có đũa
“trợ”, và nếu đời Thương
đã có đũa đồng, đũa ngà và
đũa xương, thì dùng tre trúc làm
đũa chắc là còn sớm hơn nhiều thời
đại này. Nhiều học giả nghĩ dùng
đũa bằng tre bắt đầu từ
tân thạch khí thì đại, thời
“đồ đá mới” Neolithic; cho nên
đũa ngà của Trụ vương đời
Thương không thể là đũa đầu
tiên của lịch sử. Sách Trát Kí của
Trịnh Huyền (4) ghi chuyện nấu nướng
ngày xưa “dĩ thổ đồ sinh vật,
bác nhi thực chi”, nghĩa tổng quát là dùng lá gói kín ngũ cốc bỏ vào lửa nướng chín, hay đơn giản hơn cốc lạp thì gói bằng lá rồi lùi vào tro, dùng cây củi khơi tới khơi lui cho nóng thật đều để chín vừa ăn! Đại khái, tiên nhân chúng ta từng trải qua những giai đoạn nấu nướng này, và sau một thời gian dài, mới biến được cây củi cong queo nguyên thỉ thành đôi đũa cầm trong tay…
Nhưng sao đũa
xưa trợ lại diễn biến thành đũa
ngày nay khoái tử? Truyện thoại về dzụ
này cũng dài lòng thòng. Nguyên nhân loại
khởi sự ăn bốc dùng ngón tay, cho nên có
thể nói ngón tay, phuộc xét (5) hay đũa
cũng là tam chủng phương thức, mắm sốt,
mà thôi! Thời xa xưa tổ tiên các cụ
“thời” (xơi, ăn) (6) thịt sống, tức
ăn lông uống máu, như mao ẩm huyết, tất
nhiên công phu thủ trảo phải cao siêu
để xé thịt bỏ vào miệng, cũng dùng
ngón tay để tách rời rồi xé, làm
nhuyễn thực vật và xe lại thành viên
tròn. Sau đó các cụ phát hiện thực
vật nấu chín có nhiều tư vị hơn,
lúc đó lấy đồ chín bỏ vào
miệng là cả một vấn đề!
Khi nướng, thiêu hay lụi đồ ăn trong
lửa, không thể trực tiếp dùng tay, nên
nghĩ cách thay thế bằng cành cây nhánh
trúc khơi lửa trở thịt hay đồ
nướng khác; khi chín rồi thì các vị
tổ tiên thông mẫn này cũng dùng
cành cây nhánh trúc gắp bỏ đồ
vào miệng! Tiếp đó bắt đầu dùng
nồi niêu xong chảo để nấu thịt với
ngũ cốc và lê ghim, từ từ tiên nhân
nghĩ ra chuyện dùng một cặp nhánh cây
có thể gắp, xé, trở các thực vật,
tránh cháy khét hoặc dính nồi. Lúc ăn
đồ nấu lẫn lộn chín này, tức
cháo, lại dùng cặp cây khua đồ ăn
vào miệng tức và. Cặp nhánh cây hay
thanh trúc là tổ tiên của đôi đũa
ta vậy! Vậy có thể nói đũa xưa
(trợ 箸) (7) song song với đồ gốm, sành
để nấu chín là hai phát minh có
tương quan rất mật thiết.
Thời cổ
đại, đũa viết trợ. Trong sách cắt
nghĩa từng chữ một, Thuyết văn giải
tự chú, Đoạn Ngọc Toàn ghi: chữ
Trợ 箸có nghĩa phạn 饭(cơm)
và [nguy +chi ] (危+支), hai chữ này ý
nói Khuynh 倾 nghĩa nghiêng
(như khuynh thành, nghiêng nước nghiêng thành,
ý nói sắ đẹp!), và thật vậy,
đũa cầm phải nghiêng nghiêng mới dùng
được, thật là chí lý! Đũa cũng
viết giáp 梜 (7).
Tiến trình thay
đổi cặp đũa cũng nhiêu khê.
Như đã dẫn trên đây, trước khi
đũa thành tên Khoái tử 筷子,
(khoái tử, một âm hán tự nghe sao thân
thiết đậm đà biết bao!), đũa xưa
gọi là đũa trợ 箸, mà tổ tiên
của đũa này là đũa giáp 梜!
Tá kí Khúc lễ thượng ghi: “phạn
thử vô dĩ trợ”, cơm tấm hay cơm
nhiễn (nhuyễn) không thể dùng đũa trợ!
Tỷ như ăn cháo, phạn chúc, hay canh xuông
(không có rau), mần răng dùng đũa trợ
đặng? (8). Sách cũng viết “giáp vị
chi trợ”; đũa giáp đây dùng để
gắp và lấy đồ và rau (thái 菜)
nấu trong canh. Và có lẽ đũa giáp to bản
nên thường làm bằng gỗ, trong khi đũa
trợ làm bằng tre. Tôi nhớ lúc bé, ở
Bắc và xứ Thanh, có dùng loại đũa to
bản gọi là đũa bếp, đũa cả,
đũa ghế, để xới cơm, ghế,
đánh cơm đánh cháo cho khỏi dính
nồi, không biết có liên hệ gì với
đũa giáp ngày xưa không!?
Thời Tiên Tần,
đũa vẫn chưa thấy thông dụng.
Phải đợi đến sau thời Đại Hán,
đũa mới được phổ biến rộng
rãi. Tên Trợ diễn biến thành Khoái tử,
chỉ là một chuyện húy ngôn húy ngữ
(kiêng tên). Miệt Giang Nam thời đại cổ,
nhiều sông nhiều nước nhiều thuyền,
dân gian có tục húy, dân thuyền chài
húy chữ trụ 住, mà nghĩa chính là
bị xịt tóp (stop), hai chữ chữ trụ-trợ
đồng âm, không tốt. Nhân người xưa
có gọi đũa trợ là khoái nhi 筷儿,
dân chài vội vã tự âm thượng thính,
đổi đũa trợ thành đũa khoái 筷,
mong thuyền sẽ khoái 快, đi nhanh chóng! Chỉ
vì tư kị húy ngữ mà hậu thế có
xài được một chữ may mắn, cát
tường! Thế nhưng khoái nhất là dân
khoái khẩu, kiểu Ái Văn, bởi hán tự
khoái, ngoài nghĩa mau chóng, còn có nghĩa
sướng thích, như khoái hoạt 快活.
Tưởng tượng cầm đôi đũa, tức
khoái tử, để ăn ngon, tức khoái khẩu,
thế không phải là cuộc đời tuyệt
cú mèo sao!
Chuyện đặt
tên đổi họ xứ ta thường như cơm
bữa, vì húy kỵ tượng âm và hơn
nữa, văn minh nông nghiệp rất dị đoan,
nên đổi chữ cho cuộc đời tốt
đẹp hơn là việc nên làm! Sách
Suy bồng ngộ ngữ đời Minh có ghi chú
là chữ trợ đồng âm với nhiều chữ
không tốt như trệ 滞, 滯, trì trệ…
(ngừng lại, đọng lại) hay chữ chú 蛀
(sâu mọt… cắn gỗ thuyền…), nên
cổ nhân đổi ra khoái tử. Vài thiểu
số địa khu, hoặc Nhật bản nhập cảng
đũa từ đời Đường, vẫn dùng
chữ xưa, trợ 箸 để gọi đũa.
Thế nhưng tại
sao chỉ có dân ta mới ăn đũa? Và
tại sao phát minh ra đũa không có tính
cách tổng quát một cách hoàn vũ? Lịch
sử đũa từ đời tiên nhân thật
là đơn giản, vì chỉ là cây tre cây
trúc để khơi lửa thuở ban đầu. Xin
đưa ra thiển ý sau đây báo cáo bà con
cô bác: đũa là một dụng cụ
điều khiển (cybernétique) xưa nhất của
thế gian và cũng rất hoàn hảo, dụng cụ
này động (cinétique) chứ không tĩnh (statique).
Cổ nhân chỉ dạy cầm đũa phải cầm
nghiêng, không thấy dạy chuyện đũa có 2
cây, một tĩnh một động, cây tĩnh
có điểm tựa cân bằng và cây
động có trục bản lề (articulation),
hai cây hợp thành máy điều khiển,
để cắt, xé, phân, cặp, kẹp, gắp,
lùa, và,…Cho nên đũa đa dạng đa
dụng, ăn theo kiểu á đông nhà ta, có
thể thay thế nĩa, dao và cả thìa
muỗng,… nữa! Và ăn cơm bằng đũa
đã đưa nhân loại từ cõi u tối man
rợ ăn tục, ăn lông ở lỗ hay ăn khoai
cả vỏ ăn chó cả lông, đến một
văn minh ăn thanh! Rồi từ đũa tre,
có đũa xương đũa ngà, đũa
đồng, đũa bạc, đũa vàng, và
đũa ngọc nữa…Mà văn minh đó
đã có từ mấy ngàn năm, chứ không
như phuộc xét, nằm chình ình chả biết
ngo ngoe mà cũng phải đợi đến đầu
thế kỷ 18 mới thấy mặt thấy mũi! Thế
không phải vẻ vang cho dân da vàng mũi tẹt
hay sao? Rồi hôm nay mới có kẻ hèn này
mở miệng ăn to nói phét về đũa! (9)
Đũa là một linh vật, không những để ăn mà cả để nấu. Đũa bếp (đũa cả) là cả môt tượng trưng trong đời sống bình dị của dân quê, đũa con thì là bạn đồng hành, một ngày mà không thấy mặt, thì ới anh ơi, ới chị ơi, mẩn răng mà sống cho đặng. Chả thế mà ca dao ta biết bao nhiêu chuyện đũa, xin kể vài thí dụ:
Mọt gặm đũa bếp sứa nhảy qua đăng.
Đưa đũa ghét năm đưa tăm ghét đời.
Giúp lời không ai giúp của / Giúp đũa không ai giúp cơm.
Mặt mày như cái mặt mo / Tao lấy chiếc đũa tao đo mặt mày.
Quả báo ăn cháo gãy răng / Ăn cơm gãy đũa, xỉa răng gãy chày.
Màn hoa lại trải chiếu hoa / Bát ngọc thì phải đũa ngà, mâm son
Một mai cha yếu mẹ già / Chén cơm, đôi đũa, tách trà ai dâng ?
Vợ chồng như đũa có đôi…
Đôi ta làm bạn thong dong / Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.
Đôi ta như đũa trong kho / Không tề, không tiện, không so cũng bằng.
Nhớ khi rửa bát cầu ao / Ta cầm nắm đũa ta trao cho mình.
Chồng thấp vợ cao / Như đôi đũa lệch biết sao so bằng.
Người ta như đũa có đôi / Còn anh đi lẻ về loi một mình.
Bao giờ sông hẹp bằng ao / Bắc cầu chiếc đũa qua trao lời nguyền.
Yêu nhau bốc bãi giần sang / Ghét nhau đũa ngọc mâm vàng chẳng ăn.
Em Như cây quế trên rừng / Thơm cay ai biết, ngát lừng ai hay / Anh như cây phướn nhà chay / Em như chiếc đũa sánh bầy sao nên.
Anh về thắt rế kim cang / Bán đôi
đũa bếp cưới nàng còn dư / Anh về
bán ruộng Cây Da / Bán cặp trâu già chẳng cưới đặng em.
Và còn rất nhiều…
Chúng tớ
đây, một nhóm yên hùng đang phơi
phới cử bộ trên đại lộ 60 rộng
thênh thang, lúc nào cũng ăn thanh vì ít khi
ăn bốc! Cho nên vẫn thuộc vào hạng
chục người thanh trong câu ca dao trích dẫn
ở đầu bài. Nhưng sao lại chọn tên
cái bang là Ăn tục nói phét? Xin thưa một
cách giản dị là nếu ăn thanh thì sao mà
nói phét cho phỉ dạ, ăn tục nói rang
rảng, nói huyên thuyên, nói đến xùi
bọt mép? Và gặp nhau là để nói
phét, nên phải ăn tục. Ăn tục đây
là chẳng phải có nghi lễ, đói thì
ăn, không đói thì ngồi chơi xơi
nước. Ăn tục đây là ăn có
đũa, phuộc xét cu tô, đầy đủ
cả, nhưng phần nhiều là pờ lát tíc,
disposbable! Nước Mỹ là đại quốc gia
thứ nhất trên thế giới xài đồ
dùng rồi vứt đi (disposable), cái chi cũng
có thể disposbable, kể từ còn đom cho
đến máy ảnh, nhưng chưa thấy có
quần cụt, xú chẻng hay xà lỏng diaposable…
Báo VN gọi disposable là xài một lần, lại
bắt chước mấy cha chệt dịch thành ngữ
nhất thứ tính sứ sử dụng, 一次性使用,
chữ tính như tính giao (làm tình) có
nghĩa sex, nên thành ngữ này đã thấy
có dịch qua tiếng Anh là One time sex use! Ôi Kim lang,
Ô Ami d’or, Ôi bạn vàng ơi, nghề nói
phét cũng lắm công phu…
Nhưng mà tôi có gồng hay còng mình cũng không bằng tên HLT, nói phét mà nói thật ướt át, đọc dzô thấy lịm cả người. Thôi đành chịu lỗi với Hanh y sinh. Chỉ vì ngứa ngáy mà ngoáy bút, viết nên những dòng tào lao khô khan. Nhưng đã lỡ viết mấy bài Ăn, mà HLT tiểu quỷ lại dây dưa nói chuyện Ăn tục!
Ghi chú:
(1) Lịch sử nói pasta có từ thời cổ Hy Lạp và
La Mã (nướng hoặc bỏ lò); pasta luộc hoặc khô có thấy viết trong sách Jeusalem Talmud vào thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, người Ả Rập khi chinh phục đảo Sicile đã đem văn hóa pasta này vào Ý!
(2) Thương triều
商朝 (vua Thang nhà Hạ) hay Ân đại
殷代, 1600-1046 trước Tây lịch.
Vua Bàn Canh nhà Thương thiên đô sang
đất Ân, đánh dấu thời vàng son
của triều đại này (nhà Thương dời
kinh đô hết thảy sáu lần). Vua Ðế
Tân 帝辛 nhà Ân đốt chết kẻ
trung lương, mổ đàn bà chửa, cho nên
thiên hạ gọi là vua Trụ 紂王
Trụ Vương. Tiếp nhà Ân, Vũ Vương
giết vua Trụ, lập nhà Chu 周朝 Chu Triều
(1076-771 trước Tây lịch).
(3) Hàn Phi Tử,
Han Fei Zi 韩非子 dòng giỏi Hán
tộc, sinh khoảng 280 trước Tây lịch, học
trò của thầy Tuân Tử cùng thời với
Lý Tư. Sử gia Tư Mã Thiên 司马迁 sanh 135 hoặc 145 trước Tây Lịch.
(4) Trịnh Huyền,
Zheng Xuan 郑玄, học giả Khổng giáo (127-200 trước TL) đời Đông Hán.
(5) Phuộc xét chữ hán
viết Xoa tử 叉子, xoa nghĩa tỏe ra.
(6) Ăn, nói trịnh
trọng theo miền Trung là thời, miền Bắc
nói là xơi. Người Bắc khách sáo,
ăn cơm phải lịch sự mời hết mọi
người xơi cơm. Thế nhưng gặp Bà
Nguyễn Thị Hai, Nam kờ thứ thiệt, bả trả
lời gọn lỏn “Mời Bác ăn đi,
tui xơi rồi”!
(7) Chữ trợ như
trợ giúp, hán tự viết 助
(bộ lực) trong khi đũa trợ viết 筯
hay 箸 (cùng nghĩa với chữ khoái 筷),
đều bộ trúc. Đũa có khi thấy viết
giáp, 梜 gồm chữ mộc 木
và giáp 夹
(夾) (giáp, kèm cặp, cặp để gắp
đồ). Một âm hán tự khác giáp 筴 ,
đũa.
(8)
Sách Khúc lễ thượng chép: canh có rau,
dùng khư 祛. Tôi tìm chưa ra dụng cụ này!
(9)
Sư phụ chỉ dạy tôi nói phét về
đũa, Khoái tử Cổ Kim đàm, là Cụ Lư Mậu Thôn, bác vật quán tỉnh An Huy bên Tàu.
Gavilan Springs ngày Mậu dần tháng Giêng năm Bính Tuất (02/18/06)
Nguyễn Quốc Bảo
|