Bản Tin |  Danh Sách  |  English |  Français |  Hình ảnh |  Nối kết |  Tiếng Việt |  Trang Nhà

Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc



Cách Ä‘á»c Unicode

TchyA.html

  • Ăn chơi
  • Ăn sáng
  • Ăn sáng, Ăn trưa…
  • Ăn Tết…, NQB
  • Ăn Tục Nói Phét
  • Áo gấm về làng
  • Bóng Dáng Trưá»ng Xưa
  • Bài giảng- Cha Lefas
  • Bài thơ: Bạn
  • Bài thơ Noel
  • Bố tôi: Thầy Hùng
  • Chúng ta đi giữa những mùa Xuân
  • Cơn Bão Charley - Hoài-Nhân
  • Già Dịch
  • École de mon Âme - Trúc Huy
  • Ghép nhạc vào I-Meo
  • Gối sóng Hương Giang
  • Hát Nói Ca Trù
  • Hâu...Ăn tục nói phét
  • Hình ảnh Há»p Mặt TH
  • Hoa Dạ Quỳnh
  • Hoa Thủy Tiên
  • Hoài niệm - Hà Thúc Vinh
  • Há»™i An Trong Tôi
  • Hoàng hôn trên phố BOLSA
  • Jeanne d'Arc cá»§a tôi.
  • Làm sao cắt nghĩa ?
  • Linh mục Nguyễn Văn Thích
  • Lời Xuân - LM Nguyễn Th. Phương
  • MC & tiệc cưới
  • Mọt sách
  • Một Giấc Mơ Kỳ Lạ - Trúc Huy
  • Má»™t nhà truyá»n giáo
  • Mưa chiều Đồng Tháp
  • Mười năm trở lại
  • Năm chó nói chuyện chó
  • Nhật Ký Huế - TCSơn
  • Ngô Ganh, người nghệ sĩ...
  • Níu kéo tuổi xuân
  • "nói lái"...
  • Père Petitjean-MyHa
  • Phải chăng là tình yêu ?
  • Phong lưu
  • Phở Sài Gòn !
  • Phụ Đính Bài Ăn Thịt Chó
  • Quốc Bảo Phong
  • School of my Heart - Truc Huy
  • Sinh Nhật-Hoàng Lão Tà
  • Tản mạn về chú cẩu
  • Tạp ghi của Hoàng Lăo Tà
  • Thanh Lam và nhạc Trịnh Công Sơn
  • Tháng năm cổ tích
  • Thăm Cụ Nguyễn Mậu
  • Thiên Hữu họp mặt, 2005
  • Thơ anh
  • Thơ Hoàng Lão Tà
  • Thơ tặng bạn - HLT
  • Tinh Thần MÙA GIÁNG SINH
  • Trang Nhà Cha Lợi
  • Triết lý củ khoai
  • Về hưu - HLT
  • Với o học trường ma xơ.
  • Hình ảnh Cha Lefas (11/4/2000)
  • Hình ảnh Há»p Mặt Nam Cali"
  • hình ảnh khóa 1969-1971
  • Hình ảnh xưa
  • Hình ảnh xưa 3-july-1999

    Giới thiệu nhân tài Thiên Hữu:
  • Charles Cuong Nguyen, D.Sc.






  • Thưa quý Bạn,

    Thăm quý bạn, Cuối năm rồi, ăn-không ngồi rồi, ra làm vườn lại "trúng" gió Santa Ana, sinh cảm-mạo! Đã nhờ nội-đường "tả-phong", tức la "cạo hay đánh gió", nhung vẫn còn lừ-đừ.
    Mới gọi điện-thoại nói chuyện với bạn Hoàng Đức Thạc, bàn luận về bài "Buồn tàn thu" của nhạc sĩ Văn Cao, do Thái-Thanh ca. Tôi nói cũng đồng bệnh với Ngô Kim Khôi, mỗi khi nghe: ôi, cái chữ "lướt" ấy...thì rung-cảm đến nổi da-gà! Thạc nói ở San Jóe, có ca-sĩ Ngọc Hà, hát bài này hay lắm, nhất là khi NH "láy" chữ "bẽ bàng"... "Láy" là đặc-điểm của thi-ca bình-dân VN, mà "Láy" duyên-dáng có lẽ là "ứ-hự" trong hát-nói ca-trù (*). Bạn Thạc trí-tuệ xuất-chúng, đọc ngay "Thuyền-quyên ứ hự, anh-hùng nhớ chăng?"... Nên lại xin phép vớ-vẩn, gửi đến quý bạn một bài báo "Giọng láy "ứ hự" trong Hát Nói Ca Trù" của Đỗ Quang Trị, đăng trong Ngày Mới. ĐQ Trị có làm bài "Mặc Khách Tri Âm", để nói Thạc nhờ Ngọc-Hà ứ-hự...Mới nghe Thạc nói sơ-qua, mà lòng đă cảm-phục, xin bắt chước cổ-nhân, Nguyễn Công Trứ. Kính thư,
    Nguyễn Quốc Bảo
    (*) Cũng gọi là hát cô-đầu hay hát ả-đào (hát Mưỡn Nói, hát xẩm, hát chèo, quan-ho, ca-trù). Lúc đương-thời, cậu tôi, Tchya Mai-Nguyệt Đái đứcTuấn là khách thường-xuyên ở nhà hát ả-đào, 7/7...

    Giọng láy "ứ hự" trong Hát Nói Ca Trù
    Phượng Linh Đỗ Quang Trị (Paris)

    Người viết thấy cần nhắc lại truyện mà người ta thường kể về Nguyễn Công Trứ, thời còn trẻ, với một ả đào, khi hai người đi qua một cánh đồng. Câu truyện liên quan đến giọng "láy" đặc biệt của Hát Nói Ca Trù.

    Nhiều sách đề cao Nguyễn Công Trứ là bậc thâm Nho theo đúng đạo Khổng. Lẽ tất nhiên đậu giải nguyên, ông phải thông hiểu Nho học.
    Nhưng công nghiệp lớn của ông là đã khai khẩn bãi phù sa hoang dại tại Thái Bình và Ninh Bình, lập lên hai huyện Tiền Hải và Kim Sơn. không những có tài kinh bang tế thế, ông cũng có tài thao lược, dụng binh.
    Về văn chương ông giỏi văn Nôm, đã sáng tác rất nhiều bài hát nói ả đào.
    Về tính tình, con người như vậy phải khác thường. Trong đời sỉ hoạn, tuy lên đến tổng đốc mà mấy lần bị giáng chức, cách tuột. Có lẽ tại ông hay nói thẳng, hiểu mọi sự khác đời.
    41 tuổi mới thi đậu, người ta bảo tại ông sống trong cảnh bần hàn, nên lận đận. Tuy cực kỳ thông minh, nhưng ông cũng là tay hào phóng, thích ăn chơi, chẳng có nhiều tiền mà vẫn mê hát ả đào.
    Thế mới thành truyện ông đi làm kép đánh "đàn đáy ca trù" (chơi nổi đàn này phải là tay có hạng), để được gần người mà ông mến tài sắc. Một bữa cùng đi, gánh gồng đàn trống qua một cánh đồng vắng vẻ, truyện phải xảy ra đã xảy ra.
    Sau lên đến bậc đại thần, trong một bữa đông khách, Uy Viễn Tướng Công chễm chệ trên sập, chiếu dưới kề bên là mấy ả đào và kép hát. Bỗng nghe thấy ca hai câu :

    Giang sơn một gánh giữa đồng
    Thuyền quyên ứ hự anh hùng nhớ chăng.

    Tướng Công giật mình, ngoảnh lại, thì ra là người năm xưa. Sau đó cô ta được nâng lên hàng vợ nhỏ.

    Thử giải thích về giọng "láy" và ý nghĩa hai tiếng "ứ hự" :
    Theo tự vị Huỳnh Tịnh Của (1895), nghĩa chữ Láy là "Cố ý nháy con mắt, ra dấu biểu phải làm thế nào". Láy áp dụng vào lời hát là một tiếng đơn giản, không ra ý nghĩa gì, mà bổng trầm tùy điệu, láy đi láy lại nhiều lần.
    Âm nhạc học gọi lối láy là instrument vocal, của những dân tộc có ít nhạc cụ để đệm lời ca, hay là tiếng đàn sáo nhạc cụ không đủ phong phú diễn tả. Thiếu thì lấy giọng người thay đàn sáo (theo Trần Văn Khê), nghĩa là nhạc cụ bằng miệng. Không phải là lấy miệng bắt chước nhạc cụ, mà tạo ra một thứ âm điệu êm tai riêng biệt.

    Đại cương có ba thứ láy trong lối hát cổ đất Bắc :

    Láy của CHÈO là í ì, áp dụng trong rất nhiều điệu chèo. Có lần người viết nghe hát, đếm liền được ba chục "í ì" trong một đoạn hát.

    Láy của QUAN Họ Bắc Ninh là "ơ hơ". Thường là láy khi hai người hát đối nhau. Những bài hát cho mọi người thì láy ít, như bài "Ngồi tựa Song Đào".

    Láy của CA TRÙ là "ứ hự", và chỉ áp dụng trong những bài hát nói. Thực ra nghe gần như "ứ hự", rồi có lúc đúng như "ứ hự", tùy miệng, tùy lòng người hát.

    Nhưng tại sao lại lựa hai tiếng "ứ hự" để láy trong điệu hát.
    Người viết chưa thấy học giả hay ai mê thích "đi hát nhà trò" giải thích nổi.

    Sau đây là suy nghĩ riêng của người viết. Mong các bậc kiến thức cho ý kiến.
    Hát nói có thể duy nhất của ca trù, mà ai thích cũng có thể đặt câu thành bài, miễn là theo đúng thể để cho ả đào hát. Các bậc danh sĩ đặt ra cả ngàn ngàn bài, nhiều bài là những áng văn Nôm kiệt tác.
    Ngoài hát nói, thể hát Xẩm Nhà Trò, trong ca trù, cũng được một số nhà văn sáng tác lời riêng, như Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu. Nhưng Xẩm Nhà Trò không có láy. Hơn nữa mượn lời chú xẩm xoang, không sao diễn tả đầy đủ nổi tâm hồn của mặc khách cầm chầu.
    Các âm điệu ca trù khác như Tỳ Bà Hành, Gửi Thư ... đều không có láy.
    Gọi là Hát Nói (phần chính bài ca được gọi là Nói) có lẽ vì tác giả bài thơ nói ra tâm sự trong lòng. Không những vậy, tác giả phải nói để giải thích trước cho đào nương hiểu mà ca diễn đúng hơn.
    Và nếu đào nương hiểu lóng mặc khách, qua lời thơ mà cảm phục mến tài, thêm đẩy đưa con mắt, thì giọng "ứ hự", rất có ý nghĩa, cho thấy người hát đã bị chinh phục, nên mới tỏ ý thuận trao thân.
    Đây là hoàn cảnh điều thanh tương ứng hoàn toàn (Harmonie parfaite), giữa mặc khách (nhà văn) và kẻ tri âm (ả đào). Trường hợp lý tưởng rất hiếm xẩy ra.
    Tôi phải kể đến Nguyễn Công Trứ và cô đào Hiệu Thư vì là truyện điển hình để hiểu hai tiếng "ứ hự". Phải là ả đào thực sự và tuyệt thông minh, mới đặt "ứ hự" trong câu hát để nhắc lại truyện xưa.
    Có say mến, cảm phục nhau, mới thành điều thanh tương ứng, hát cho nhau, rồi yêu nhau. Ông Trứ đã làm cả trăm bài, nhưng trường hợp tương ứng có lẽ chỉ xẩy ra mươi lần trong đời hai người.
    Bài thơ Hiệu Thư của ông Trứ cho ta hay ông mến nhớ cô ta thế nào :

    "Tương tư khôn biết nói làm sao,
    Muốn vẽ mà chơi vẽ được nào.
    Khi đứng khi ngồi khi nói truyện,
    Lúc say lúc tỉnh lúc chiêm bao.
    Trăng soi trước mắt ngờ chân bước,
    Gió thổi bên tai tưởng miệng chào.
    Một nước một non người một ngả,
    Tương tư khôn biết nói làm sao."

    Ông đang cầm quân đánh giặc Nông Văn Vân trên Cao Bằng, mà Hiệu Thư cũng phải trèo đèo lặn lội mò lên.

    Còn mọi trường hợp thường ca giọng Hát Nói, thì "ứ hự" chỉ là giọng láy.
    Nhưng lối láy này rất khó. Có thể hát rất đúng cung đàn nhịp phách, nhưng láy "ứ hự" không đủ truyền cảm. Nếu truyền cảm được phần nào là còn tùy tâm hồn giọng hát của ca nữ.

    Trước đây tôi có làm một bài hát nói nhan đề là Mạc Khách Tri Âm. Bài này đã được nghệ sĩ ưu tú KD hát ghi âm cho tôi tại Hà Nội và nghệ sĩ T. Hòa hát ở Ba Lê.

    Xin ghi lại đây :

    Mặc Khách Tri Âm

    Mưỡn : Tiếng ai đầm ấm du dương,

    Gợi khêu man mác vấn vương cảm hoài.
    Bỗng trầm dịu ngọt bên tai,
    Tưởng mơ tri kỷ cùng ai sánh vầy.

    Nói : Phách cung túy xướng ân tính lộng

    Thích ca trù vì mê giọng láy ngân thêm
    Như nỉ non lúc tâm sự tỏ niềm
    Rồi nũng nịu thật êm đềm quyến rũ
    Mộng du túc tịch Dương Đài vũ
    Miên tưởng ngọa trung Giáp Đính vân
    Mặc khách với tri âm ứng cảm điệu vần,
    Động phím tơ lòng tương thân thành tương ái
    Ngoài ra vẽ thanh tâm đi lại
    Trong thì ngất ngây dại dại âm thầm
    Giọng ai "ứ hự" còn âm.

    Phượng Linh Đỗ Quang Trị (Paris)
    đăng trong Ngày Mới.

    - Bài giảng- Cha Lefas - Trang Nhà Cha Lợi


    Cần liên lạc, xin gởi điện thư Hoang Ngoc Huu
    Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc giữ bản quyá»n, copyright (C) 1999-2006