Diễn đàn |  Danh Sách  |  English |  Français |  Hình ảnh |  Nối kết |  Tiếng Việt |  Trang Nhà

Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc



Diễn đàn Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc

Thơ kêu gọi của Sr Diệu Khánh



  • Tặng bạn già
    Hoàng Lão Tà

    Hà thúc Vinh


  • Các bạn thân mến,

    “NỬA MÙA”

    Ngược giòng thời gian, về lại đầu thế kỷ hai mươi, trang phuc của người dân Việt chia ra làm hai phái rõ rệt: môt phe còn chuộng cổ, khăn đóng, áo dài, quần màu trắng, vải mỏng bay phấp phới trên đôi guốc gỗ, theo lối quốc phục và một phái tân tiến gồm dân Tây học, trang phục theo Tây mà lúc bấy giờ người ta gọi là Âu phục gồm áo sơ mi, quần dài may bằng loại vải dày, ống quần chuôi vừa chấm đến mũi của đôi giày Tây. Đặc biệt, ngoài những áo quần, dày giép và những phụ tùng lỉnh kỉnh như khăn mùi soa nhét trên túi áo, trong túi quần, khăn quàng cổ, cà vạt vv…Âu phục còn có một bộ “complet” mặc trong những ngày lễ lớn hay để dự tiệc tùng quan trọng, trong những hoàn cảnh đặc biệt có tính cách nghi tiết, bộ áo quần này còn được gọi là “Đồ lớn” có lẽ vì con nít ít được mặc bộ “complet” này, bộ áo quần chỉ được dành cho người lớn. Bộ “complet” này mang nhiều hình thức khác nhau. Hình thức thứ nhất thật đơn giản, áo và quần may cùng một loại vải và đồng màu sắc. Hình thức thứ hai: áo và quần không đồng màu , đồng thứ vải nhưng màu sắc của áo và quần na ná giống nhau chứ không tương phản như áo đỏ, quần xanh chẳng hạn.( Liền ông, con trai vì không được gọi là giới “hồng quần” nên không mặc quần màu đỏ, ngoại trừ mấy ông ca sĩ thì tha hồ chọn màu sắc áo quần và các anh chàng “Gay” nằm ở giữa nam phái và nữ phái mà tôi gọi là “Trung phái “ tức là dân “Middle sex”) Lối trang phục này gồm áo và quần màu sắc gần giống nhau, dân Tây gọi là “ton sur ton”. Còn một hình thức thứ ba nữa là áo “veston” và quần dài hoàn toàn không cùng một thứ vải, không cùng một màu sắc, lối trang phục này được mệnh danh là “demi-saison” có nghĩa là “nửa mùa”. Tại sao lại gọi là “nửa mùa”? Tôi “vận dụng” (Phải dùng chữ đao to búa lớn để át tiếng thiên hạ đấy mà!) trí óc để tìm hiểu và tạm hiểu như ri: Nửa mùa tức là chưa đi đến nơi đến chốn, đi chưa hết mùa, đang nửa chừng xuân, đang còn lưng chừng, lửng lơ con cá vàng, đang còn ngơ ngẩn dọc đường thiên lý, chưa đến đích, chưa đạt đến khoái cảm tột độ, hay nói có sách mách có chứng, nói văn chương hoa lá cành, nói có khoa học kỷ thuật là không phải chính thống chân truyền, nghĩa là tà đạo hay “noái” tóm tắt theo dân Huế tui, “demi-saison” tức là chưa ra răng hết, chưa đi đến cái lỗ mô hết.

    Tôi nhập đề lăng nhăng như rứa để cố gắng diễn tả rằng khi ta làm một công việc gì mà không thành công hay chưa thành công thì người đời gọi là “nửa mùa”. Tiếng tĩnh từ “nửa mùa”này thường hay đi đôi với một cái “nghề”mà không có trường ốc nào mở lớp giảng dạy hết. Ấy là nghề “Thi sĩ ”. Trên thế giới, theo tôi biết, dù là một quốc gia tân tiến, hay một nước chậm tiến, chưa thấy ở đâu có lớp học dạy nghề làm “Thi sĩ”.( Quý vị nào biết ở đâu có lớp dạy nghề này xin vui lòng chỉ giùm tôi vì tôi đang thất nghiệp, đang muốn học nghề này để kiếm cơm.) Vì thế mà ai cũng có thể làm thi sĩ vì không cần có bằng cấp, không cần có giấy phép, không cần xin “Business License”. Học lực tiểu học, trung học hay đại học hay thậm chí chỉ biết đọc biết viết đều có thề mần thơ. Mà đã mần được một vài bài thơ, nhất là thơ đã được đăng trên một vài nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san hay tập san, đặc san thì ai cấm được người làm thơ tự gọi mình là thi sĩ. Dĩ nhiên thơ thì phải có bài dở, bài hay chứ làm sao mà trong khối lượng thơ sáng tác lại chỉ toàn là thơ hay. Chỉ khác nhau ở chỗ thi sĩ thực thụ thì số lượng thơ hay nhiều hơn là thơ dở và thi sĩ tự phong là những thi sĩ mà thơ dở hình như quá nhiều so sánh với những bài thơ hay. Những thi sĩ thuộc đẳng cấp này thường được gọi là thi sĩ “nửa mùa”.Và từ nhận định này, cái nghề thường đi song song với nghề thi sĩ là nghề văn sĩ cũng thường được gán cho hai chữ “nửa mùa”. Hai nghề này quả thực không có trưòng lớp nào dạy hết. Có nhiều vị khoa bảng, bằng cấp mang đầy mình, Cử nhân văn chương, Tiến sĩ văn chương, tốt nghiệp đại học nổi tiếng này, danh tiếng nọ nhưng đã có mấy ai trở thành văn sĩ và thi sĩ đâu. Tôi tự hỏi phải chăng họ không muốn mang danh là văn, thi sĩ “nửa mùa” vì sợ thơ không hay, không tình tứ lãng mạn, văn không đạt thị hiếu của quần chúng trong lúc bằng cấp của họ đã đủ để mang danh vọng đến cho họ.Trái lại có nhiều người về phương diện bằng cấp thì chẳng đi đến đâu thế mà họ là văn, thi sĩ thứ thiệt, không ai dám phủ nhận “tay nghề” của họ. Hai nghề này thường không thành công về tài chánh nhưng lại được người đời hâm mộ và lắm khi lại còn tìm được bạn đường xinh đẹp mỹ miều hay thuộc thành phần quý phái. Trong tiểu thuyết và trên thực tế đã thấy lắm cuộc tình ngang trái giữa văn thi sĩ và các kiều nữ mến mộ văn tài của con nhà văn thơ.Vì thế mà chỉ cần biết viết và biết đọc, gần như ai trong đời cũng có lúc mơ trở thành văn, thi sĩ để đời biết tiếng nghe tên để được giai nhân mê luyến., Giấc mơ rất it khi thành hiện thực cũng vì hai chữ oái ăm “nửa mùa”!

    Nhà văn Nguyễn Thụy Long trước khi trở thành văn sĩ cũng dã từng một thời mơ làm văn sĩ, thế cho nên ông đã viết tập hồi ký: “Thuở mơ làm văn sĩ”. Trong xã hội Viêt Nam ta, kẻ sĩ bao giò cũng được quý trọng, chẳng thế mà cụ Nguyễn Công Trứ lại viết:

    Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt
    Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.

    Văn chương bình dân của ta tuy xỏ xiêng kẻ sĩ nhưng cũng hàm chứa niềm cảm phục:

    “Nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”

    Vì vậy mà cứ nghề nào ta có thể viết thòng thêm ở đàng sau một chữ “sĩ ” là y chang nghề đó là nghề được trọng vọng, mến chuộng, ví dụ như Bác sĩ, Nha Sĩ, Dược sĩ, Nghệ sĩ, Văn sĩ và Thi sĩ vv…Phải chi sau chữ chơi mà có thể viết được một chữ sĩ thành ra “Chơi sĩ” thì thú vị biết là ngần nào! Ủa mà sao lại không thể nhỉ? Vì hình như cụ Nguyễn Du đã nói là “nghề chơi cũng lắm công phu” cơ mà!”

    Nói tóm lại, ai cũng muốn mang vào mình một chữ “sĩ”, thậm chí có người đã mang một chữ “sĩ ”to tổ bố, được bàn dân thiên hạ trọng nễ vì tài, vì đức, vì tiền rừng bạc biển thế mà cũng còn muốn kiếm thêm một chữ “sĩ ” nữa cho đời biết tiếng, cho người nghe tên. Do đó mà ta thấy một số các quý vị này đã cầm bút múa vài đường, viết dăm ba truyện ngắn, một vài truyện dài, sáng tác một vài bài thơ trữ tình, than mây khóc gió, gửi người tình xưa, tình muộn, để có tác phẩm bày bán ở các cửa hàng sách, để gửi tặng bạn bè, thân nhân. Nhưng, điều khá ngộ nghĩnh là trên các tác phẩm của họ, bao giò họ cũng ghi nghề nghiệp chính thức của họ mà chẳng bao giò ghi hai chữ văn sĩ hay thi sĩ. Tại sao? Vì, như tôi đã thưa, hai nghề này vốn không có trường lớp nào chứng nhận. Đây là một hiện tượng khá độc đáo trong nền văn học Việt Nam hải ngoại hay nói một cách hàm hồ, đây là một hình thức “cạnh tranh” nghề nghiệp hợp pháp và hợp lý tạo ra khá nhiều cái “nửa mùa” vui “đéo” chịu được. (Thành thật xin lỗi các nhà đạo đức, tôi đã dùng một chữ có tính cách thời thượng rất chi là phổ thông hiện nay ở trong nước và ngay cả ở hải ngoại.)

    Liên quan đến chữ “sĩ” và hai chữ “nửa mùa” là 2 chữ “Nghề” và “Nghiệp”. Tôi không có cuốn Hán Việt nào trong tủ sách gia đình nên đành phải mò mẫm xem hai chữ này khác biệt nhau như thế nào. Hể nói đến Nghề là phải nghĩ đến tính cách chuyên môn như ta nói nghề thợ mộc, nghề thợ rèn, nghề thầy giáo, nghề bác sĩ, nghề luật sư và nghề chơi (Chữ của cụ Nguyễn Du chứ không phải của tôi) vv…”Nhất nghệ tinh nhất thân vinh” nên Nghề mang ý nghĩa đơn sơ, bình lặng, không sôi nổi, cuồng nộ, không ba đào dậy sóng, không ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Trái lại chữ Nghiệp tự nó đã mang một ý nghĩa sôi động, khổ đau, phiền lụy, trầm luân khổ hải như trong kinh Phật có từ ngữ “Nghiệp Chướng”.Chữ Nghiệp bởi thế ta thường dùng trong thành ngữ “Nghề văn, Nghiệp võ”. Dĩ nhiên văn so với võ thì nhàn hạ, phong lưu hơn nhiều.Tuy nhiên đôi lúc cái phong lưu của nhà văn lại đi kèm cái đói rách, túng thiếu như Nguyễn Thụy Long trong “Thuở mơ làm văn sĩ”. Cái phong lưu của nhà văn cũng đã được mô tả một cách gợi hình, gợi ý trong văn chương bình dân:

    “Phong lưu rách một ống quần, còn lưa một ống lần lần rách sau.”

    Những ai là con dân đất Thần Kinh chắc vẫn còn nhớ hình ảnh các “Mệ”tức là các “tay chơi” Hoàng Gia lúc sa cơ lỡ vận, nghèo túng nhưng vẫn hiên ngang áo dài khăn đóng, hai ống quần, rách một ống mà vẫn phong lưu, hoài niệm dĩ vãng vàng son, thênh thang dạo phố phường xem trời bằng vung. Họ có thể tiện tay “cầm nhầm” một vài món đồ của thiên hạ và nếu bị bắt tại trận thì họ cũng cười xòa bảo: “Mệ ưa thì mệ cứ làm” và cũng không ai phiền trách gì các Mệ vì tôn trọng cái ngông nghênh phóng túng “dễ thương” của các bậc con Vua, cháu Chúa lúc hết thời.

    Chúng ta chắc hẳn cũng đã từng nghe kể qua những vinh nhục, những khổ đau, những phong trần của các ông thầy võ. Bị bầm dập, đau đớn mình mẫy trên võ đài mới kiếm được đồng tiền nuôi thân. Lúc về già, thường mắc bệnh điên khùng, mắt mờ, tai điếc, tay chân run rẩy như võ sĩ quyền Anh hạng nặng, lừng danh thế giới Muhammed Ali. Đã thế, lúc dạy võ, truyền nghề cho đệ tử không có ông thầy võ nào dám truyền hết nghề vì sợ bị phản bội, họ luôn luôn giữ lại một vài tuyệt chiêu tức là “ngón nghề ruột” để phòng thân. Đúng là nghiệp võ! Thế nhưng các văn sĩ tuy nhàn hạ so với võ sĩ nhưng tại sao trong ngôn ngữ Việt Nam ta lại thường dùng chữ văn nghiệp mà không hề thấy dùng chữ Y nghiệp, Giáo nghiệp hay Luật nghiệp để chỉ sự nghiệp y học, mô phạm hay luật pháp của các bác sĩ y khoa, các giáo sư, các luật sư. Phải chăng chữ Nghiệp dùng bên cạnh chữ Văn ngụ ý các văn sĩ cũng là những người mang chữ Nghiệp trong triết lý Phật giáo. Văn sĩ cũng là những người “bắt phong trần, phải phong trần”, những người mang chữ đoạn trường trong thân phận. (Tôi dốt Hán tự, không hề đi Chùa mà lại bàn đến chữ nghĩa và Phật Pháp, vậy xin quý vị niệm tình tha thứ khi tôi nói nhăng, nói cuội)

    Đọc hồi ký của Nguyễn Thụy Long mới thấy rõ cái Nghiệp văn nó hành hạ tác giả như thế nào. Thủơ nhỏ, mơ làm văn sĩ, bị ông chú đánh đòn vì ông ta không muốn đứa cháu của mình theo đuổi cái nghiệp của ông anh mình đã tốt nghiệp Cao Đẳng Mỹ Thuật Hà Nội mà cuộc đời phiêu bạt, cơ hàn vùi nông một mớ xương tàn. Nguyễn Thụy Long chưa đầy 20 tuổi, đã dấn thân vào đời qua bao cảnh ngộ éo le, chịu bao nỗi oan khiên, bị đời đá lên, đạp xuống. Vào quân đội, làm một tên “lính ghẻ”, muốn lương thiện mà phải bị cấp trên du vào hoàn cảnh đồng lõa trong những vụ ăn cắp của công để rồi vào tù ra khám. Bị vùi dập trong hố bùn tội lỗi, chung đụng với giới bất lương, với tù nhân hình sự, cướp bóc, giết người, với giang hồ, đĩ điếm, đủ mọi thành phần xấu xa trong xã hội. Phải là một người có đầy đủ nghị lực, có một tính thiện gần như siêu việt mới có thể ngoi lên từ vũng lầy tội ác để trở thành 1 văn sĩ viết nên những tác phẩm sáng giá.

    Đọc hồi ký “ Thuở mơ làm văn sĩ ” của Nguyễn Thụy Long mới thấy rằng làm văn thi sĩ “trọn mùa” thật khó dàn trời và làm văn thi sĩ “nửa mùa” nói theo kiểu Mỹ chỉ là “Piece of cake”, dễ như ăn một miếng bánh hay như ngôn ngữ Việt Nam ta: “dễ như ăn ớt” (không dễ đâu!) hay “dễ như ăn kẹo”(Cái này thì dễ thật!).Có một điều khá lạ lùng là các văn sĩ thường lại không kiêm luôn thi sĩ. Một là văn sĩ chỉ thuần túy viết văn chứ không làm thơ baogiờ, hai là văn sĩ có làm thơ nhưng sự nghiệp về thơ không đáng kể so sánh với văn tài. Cũng tựa như một cầu thủ chơi Tennis đánh đơn hay nhưng đánh đôi lại không nổi tiếng chỉ trừ ra một vài ngoại lệ như John Mac Enroe hay Navratilova đánh đơn và đánh đôi gì cũng hay hết. Mai Thảo tuy có làm thơ hay nhưng người ta biết ông qua các tác phẩm tiểu thuyết nhiều hơn là qua tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”. Cũng như các tác phẩm về văn chương, triết học của Nguyên Sa không đáng kể so với những tuyệt tác thi ca của ông vv…

    Tôi cũng có viết được một vài bài phiếm lăng nhăng có được gọi là văn sĩ “nửa mùa” không nhỉ? Chắc là một phần tư, một phần tám cũng chưa đạt tới, làm gì mà được “nửa mùa”. Đúng là nghèo mà ham! Thôi thì không có mùa nào cũng không thành vấn đề.

    “Mệ ưa thì Mệ cứ làm, Mệ cứ viết!” (Mẹ tôi vốn là một Tôn Nữ nên tôi lạm xưng là “Mệ” chắc không nhiều thì ít cũng được gọi là Mệ “nửa mùa”)

    Hoàng Lão Tà

    - Diá»…n đàn Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc - Linh mục Nguyễn Văn Thích - Má»™t nhà truyá»n giáo - Cha Petitjean


    Cần liên lạc, xin gởi điện thư Hoang Ngoc Huu
    Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc giữ bản quyá»n, copyright © 1999-2007