Phần hồn
Con người
đươc cấu tạo do hai thành phần thể
xác và linh hồn theo một tỷ lệ bách
phân nào thì hình như cho đến nay các khoa
học gia và các nhà thần học vẫn chưa
xác định được. Còn nhớ sau tháng
Tư /1975, trong một buổi học tập chính trị
chúng tôi lần đầu tiên nghe một ông
cán bộ từ “đỉnh cao trí tuệ
”lạc xuống trần thế, lên lớp giảng
một bài về xã hội học “báo
cáo” rằng thì là “Con Người” chia
ra làm hai phần: phần “con” và phần
“người”. Chúng tôi đã suýt
bật cười vì ý tưởng ngộ nghĩnh
này. Từ trước đến nay, theo những bài
học về “Cách Trí” trong môn khoa học
thường thức bậc tiểu học thì thân
thể người ta chia ra làm ba phần gồm đầu, mình và tứ chi. Sau này, theo với đà tiến hóa của khoa học, thân thể người ta được tặng thêm một phần “bonus” nữa là cái lỗ rún nhờ ở vị trí chiến lược quan trọng của cơ quan này dùng để thoa dầu cù là hiệu con cọp. Chúng tôi chưa hề nghe nói đến phần “con” và phần “người” nên lúc nghe nói đến cách phân chia này của diễn giả VC chúng tôi cứ nghĩ là ông ta kể chuyện tiếu lâm và vì tôn trọng cử tọa nên ông đã không tiện nói ra một từ ngữ đi sau chữ “con”. Kể ra thì cơ phận này là “đệ ngũ chi”( ngoài “tứ chi” ra còn một chi nữa, ngắn hơn nhưng không kém phần quan trọng) cũng là một bộ phận chiến lược còn quan trọng hơn cả cái rốn. Té ra phần “con” tức là phần”con thú” trong con người của chúng ta mà dân miền Nam chúng ta thường gọi là “thú tính”. Hay thật! Đúng là “đỉnh cao trí tuệ” mới có được một định nghĩa về con người “siêu việt” như thế!
Tôi vốn là
một phó thường dân tầm thường từ
trong ra ngoài, từ dung nhan thể chất đến
kiến thức tinh thần, tầm thường từ
địa vị trong xã hội đến nhận
thức lý trí, vì thế mà chỉ biết
rằng trong thể xác của ta có chứa một linh
hồn và khi thể xác làm reo, nằm xuống
không chịu ngồi dậy thì linh hồn chê
không ở lại nữa mà vụt bay đi không
luyến tiếc, bay đi mô thì không ai dám
cả quyết nơi chốn trú ngụ, hoặc là
Thiên Đàng theo Thiên Chúa Giáo hay Niết Bàn theo Phật Giáo hay đến nơi chốn nhiều bạn bè cư ngụ là Hỏa ngục hay Địa ngục thì cũng mắm sốt cà na hết. Vâng, theo các bài giảng của những nhà thần học mà tôi nghe được thì “phần hồn” và “phần xác”là hai thành phần cấu tạo nên con nguời chúng ta. Các độc giả của tôi lần này bỗng nhiên thấy tôi bàn đến những điều xem có vẻ cao siêu chắc là ngạc nhiên lắm, phải không các bạn. Không, ngàn lần không, vạn lần không, tôi không dám có tham vọng luận bàn đến những gì ngoài kiến thức thông thường của một kẻ thật tầm thường. Những nhận định của tôi trong bài viết này cũng chỉ là một thứ lăng nhăng thuộc loại huề vốn hay vô thưởng, vô phạt, vậy tôi xin quý vị xem qua rồi bỏ chứ đừng chất vấn gì tôi, tội nghiệp tôi vì tôi không đủ khả nặng suy luận hay dấn thân vào những cuộc bút chiến về những vấn đề cao siêu như thần học, tôn giáo, tự do tín ngưỡng, tâm lý học hay xã hội học vv…
Ba nan đề
thiết yếu của con người trong kiếp sống
trăm năm nơi cõi tam này là: Tham, Sân và
Si. Nếu loài người ai cũng có thể diệt
trọn ba thuộc tính này của con người
thì thế gian này thật là một cõi cực
lạc, mọi người sống hòa bình, an cư
lạc nghiệp, không chiến tranh, không giết
chóc, không tội phạm, không ganh ghét, không
hận thù, thế gian này chỉ thấy toàn các
bậc thần thánh vì ai cũng là người
đạo cao, đức trọng. Trong ba vấn đề
Tham, Sân và Si, theo tôi, dễ dàng xóa bỏ
hơn hết là chữ “tham”. Không tham ăn,
ham uống, không tham tiền Hồ, tiền Đô,
không tham chức vị, danh vọng trong xã hội. Danh
và Lợi là hai miếng mồi ngon nhất trong xã
hội loài người nhưng cũng dễ diệt hai thứ này lắm, một là vì ta không đủ tư cách, tài cán để đớp hai miếng mồi đó nên ngồi giả ngơ, giả điếc như không hề trông thấy, hai là vì lười biếng không đủ kiên nhẫn và chịu cực khổ theo đưổi chúng. Vì thế ta có thể vỗ ngực tuyên bố là ta không tham, ta đã diệt được chữ “tham”, ta sắp thành tiên, thành Thánh, thành Phật rồi. Khoan, khoan, đừng vội mừng! Muốn trở thành thánh nhân còn hai con đường chông gai là chữ Sân và chữ Si cần phải vượt qua mà gần như không ai có thể khuất phục được hai con quái vật Sân và Si này, cụ thể là bao nhiêu bậc tu hành đã thân bại danh liệt vì bị hai chữ này theo quấy phá. Ngay cả chữ “tham” mà quý vị tưởng đâu đã diệt trọn thì nó vẫn còn tồn tại trong thâm tâm quý vị mà quý vị không nhận biết được vì nó tiềm ẩn thật kín đáo không chịu lộ mặt hoặc là trá hình thật tinh vi dưới nhiều hình thức vô tội mà ta không thể ngờ được.
Tôi có ông
bạn tuổi đời đã trên sáu bó
nhưng vẫn còn “Si” nên không chịu
nổi cảnh cô đơn. Ông đã bôn ba
xuôi ngược, gá nghĩa với một một
người đẹp tuổi cũng đã xế
chiều nhưng nghe ông ta bảo là điện
nước đầy đủ lắm ngay cả thời
gian vừa qua khi cơn nóng lên đến hơn 100
độ F, điện bị cúp tùm lum tà la. Bà
này là một tín nữ Phật Giáo, vẫn
còn những nét duyên dáng của nhan sắc
thuở xa xưa, siêng năng đi Chùa lễ Phật.
Kiến thức về Phật giáo của Bà cũng
có thể sánh ngang bằng các đại đức
vì bà chịu khó và có khả năng, học
thức để nghiên cứu kinh sách. Thỉnh
thoảng đến thăm ông bạn, bị nghe bà
giảng thuyết về Tam Bảo gồm Phật Bảo,
Pháp Bảo và Tăng Bảo hay thọ Ngũ giới,
Thọ bát, tôi cũng học hỏi được
nhiều. Những lúc đó vì phép lịch
sự xã giao tôi phải chịu trận ngồi nghe
trong lúc bạn tôi nheo mắt nhìn tôi cười
hóm hỉnh vì biết tôi là thằng gàn
dở, kinh Phật chỉ thuộc được bài
chú Lăng Nghiêm, kinh Thiên Chúa chỉ thuộc
được hai bài kinh Lạy Cha và kinh Kính
Mừng. Chẳng bao giò ăn chay vì thèm nước
mắm, không đi Chùa vì không khí quá trang
nghiêm mà lòng mình thì quá trần tục,
nghe Thầy thuyết pháp mà cứ nghĩ đến
hòa thượng Lỗ trí Thâm trong truyện
Thủy Hử vì những câu chuyện này đã
thâm căn cố đế trong đầu óc ma bùn
nên phản xạ tự nhiên cứ nghĩ đến
trong tiềm thức dù không cố ý. Ông bạn
tôi có lẽ thường xuyên được
vợ thuyết pháp về phần hồn nên những
lúc tôi đến thăm mà gặp dịp là
ông ta để cho tôi chia xẻ “đắng
cay” với ông, cho tôi ngồi nghe mệt nghỉ
những bài thuyết pháp mà vợ ông ta nghe
giảng dạy ở chùa rồi cố nhớ để
được dịp làm ơn làm phước
thuyết giảng cho người khác. Thật chán cho
tình bằng hữu! Ngọt bùi thì ông ta
hưởng một mình nhưng đắng cay thì
lại rất chịu chia. Tôi không đi Chùa mà
Nhà Thờ cũng không hề bén mảng vì
lười biếng, sợ phải quỳ xuống,
đứng lên không đúng lúc khi linh mục
làm lễ. Hát Thánh ca thì giọng vịt
đực không hát được nên chỉ
thích nghe nhạc mà là nhạc tình kia chứ
nhạc đạo thì nghe không phê. Thế mà
phải ngồi nghe vợ bạn nói về phần
hồn, khuyên nên đi Chùa nghe các Thầy
thuyết pháp để chuẫn bị hành trang lúc
về bên kia thế giới khỏi bị trầm
luân, có phải là tôi đang chịu đựng
một hình phạt không cơ chứ. Tôi
được khuyên nên ăn chay, niệm Phật,
nên thực hành hạnh bố thí bằng cách
gửi tiền về Việt Nam giúp người nghèo
đói để được phước, để 49
ngày sau khi mãn phần trên cõi thế thì
được đầu thai vào gia đình đạo
đức, lễ nghĩa, nhân từ vv… Chao ôi
là mệt! Lo chuyện trần thế chưa xong mà
đã vội lo đến mai sau về bên kia thế
giới. Thế có phải là “tu” mà vẫn
còn “tham” không, tham được sống sung
sướng hạnh phúc trong cõi chết, trong kiếp
lai sinh. Mình đang tham mà không biết mình tham
là thế đó. Cứ ngỡ là mình tu hành,
tụng kinh, niệm Phật, mình bố thí chứ
đâu có ngò là trong thâm tâm mình đang
lo cho mình, đang vị kỷ lúc đang vị tha.
Nghĩ nhiều đến người nhưng nghĩ
đến ta cũng chẵng kém. Như vậy là
bố thí trong tinh thần vị kỷ. Những
người trúng số đem tiền đóng góp
vào các chương trình nhân đạo, các
quỷ từ thiện, tặng tiền bạc cho nhà
thờ, góp phước sương cho chùa để
chia sẻ cho tha nhân sự may mắn, niềm hạnh
phúc của mình. Nhưng thử hỏi mấy ai
lại không nghĩ rằng họ làm việc thiện
để mong tránh được những bất hạnh
có thể xảy ra vì họ đã trúng số,
đã quá ư may mắn mà thông thường
thì sau cái hạnh phúc từ trên trời sa
xuống thì liền sau đó sẽ là một
bất hạnh theo định luật bù trừ của
Tạo Hóa. Tôi không hoàn toàn nghi ngờ
lòng tốt của thiên hạ nhưng chỉ
đưa ra một nhận xét thô thiển, thông
thường để giải thích những hành
động của người đời thông
thường. Tôi không phủ nhận tính cách
vô vị lợi của những nghĩa cử cao
đẹp đáng ngợi khen nhưng cũng xin nêu
lên một hình thức ngụy trang lòng tham một
cách tinh tế mà chính bản thân người
trong cuộc cũng không ý thức được.
Tín đồ Thiên Chúa giáo lúc đọc kinh
Kính Mừng đâu có phải lúc nào cũng
thuần túy đọc trong ý hướng ngợi ca
ơn phước của Đức Mẹ mà đa số
những lúc đọc kinh đều mong muốn
được Đức Mẹ ban ơn phước,
đọc kinh để được giải tội vì
mình tội lỗi quá nhiều và linh mục của
mình bắt mình đọc kinh để
được giải tội. Như vậy cũng là
một hình thức “tham lam”muốn cho phần
hồn được thanh thoát sau khi phạm tội,
một hình thức hối lộ Thánh Thần. Tụng
kinh, niệm Phật hay đọc kinh ca ngợi Chúa
Trời phải hoàn toàn quên hết những
ước muốn lo cho phần hồn mai sau của mình
mới thực sự đã diệt được
chữ “tham”. Mấy ai thực hiện
được điều này trong đời sống
thường nhật vì hầu như tất cả
những người đi Nhà Thờ xem lễ hay đi
Chùa lạy Phật đều tham muốn lo cho phần
hồn của mình mai sau. Cái “mai sau” luôn
ám ảnh họ khiến họ phải “tu”,
phải hành thiện để lo cho phần hồn
của mình. Danh từ “phần hồn” luôn
là một niềm ưu tư triền miên của
họ.Vì thế chẳng những họ lo cho phần
hồn của họ mà còn có tham vọng lo cho
phần hồn của tha nhân, của người thân,
của bằng hữu làm như là lo được
cho tha nhân thì mình cũng được
hưởng lây. Bố vợ tôi đi thăm một
ông thông gia, ông này là một vị mục
sư Tin Lành giáo. Hai ông già ngồi hàn
huyên tâm sự về những năm tháng trong
trại “học tập cải tạo”, một
nhà tù được ngụy trang bằng danh từ hoa
mỹ, mới lạ đầy tính chất lừa
bịp đối với người dân miền Nam
Việt Nam sau 1975. Vị mục sư, vì méo mó
nghề nghiệp nên trong một lúc hứng khởi
đã nói lên ưu tư của ông ta về phần hồn của bố vợ tôi và vui vẻ cũng như không kém phần trịnh trọng, tình nguyện sẽ lo cho phần hồn của ông bạn thông gia.(Tôi chẳng biết ông ta sẽ lo như thế nào) Bố vợ tôi hình như cũng giống tính tôi, rất phóng túng trong vấn đề tín ngưỡng, thế là câu chuyện bỗng nhiên trở nên tẻ nhạt. Lúc đưa ông cụ ra về, ông cụ đã bảo tôi: “Thật là vô duyên, khi không lại tự nguyện đứng ra lo cho phần hồn của Ba. Phần hồn của Ba có gì đâu để ông ta phải bận tâm.” Tuổi già khó tánh! Nếu tôi ở vào địa vị ông cụ thì tôi cũng chẳng lấy thế làm khó chịu mà sẽ vui vẻ nhận lời, có lo còn hơn không. Cũng tựa như uống thuốc bổ thì không có gì phải thắc mắc, không bổ bề ngang thì cũng bổ bề dọc. Phần hồn là phần vô hình, không biết mặt ngang mặt dọc nó ra răng thì khi có người chịu lo cho mình thì cứ để họ lo cho họ sung sướng mà biết đâu sau này mình cũng sung sướng.
Lúc nhỏ, tôi đọc truyện Phong Thần, khoái nhất là khi một vị tướng lãnh tử trận vì pháp thuật thua kém đối phương, hồn bay về đài Phong Thần để được phong làm thần thay vì làm Tiên, Phật. Kết thúc trận đánh luôn luôn là câu: “Linh hồn bay lên đài Phong Thần” Ví dụ như ở ải Đồng Quan, Khương tử Nha bị vây khổn vì tướng Dư Đức rải đậu gieo bệnh đậu mùa cho binh tướng nhà Châu khiến cho hai vì Thánh Đế Phục Hi vàThần Nông phải ban thuốc chữa bệnh đậu mùa và kết cuộc thì Dư Đức bị tử trận và “phần hồn” bay lên đài Phong Thần để sau này trở thành vị thần Ôn Hoàng gieo rắc bệnh dịch trên nhân thế. Anh chàng Dư Đức này không biết vì cớ gì mà lại gieo rắc bệnh dich cúm gà cho dân Việt Nam ta. Phải chi có Nhị Lang Thần Dương Tiễn đến Hỏa Vân Động xin Phục Hy Thánh Đế và Thần Nông Thánh Đế ban cho vài hoàn thuốc về pha với nước rải khắp Việt Nam thì dịch cúm gà làm sao mà còn tồn tại được.
Trên đây là một vài ý kiến thô thiển của tôi về “phần hồn”, về cái “tham” dưới dạng tiềm ẩn mà vô tình ta không ý thức được.Tuy nhiên thà là “tham” như rứa còn hơn là tham danh, tham lợi, mầm mống của bao nhiêu tranh chấp tạo nên muôn vàn khổ đau cho nhân loại. Tôi chỉ bàn đến phần hồn của con người, riêng phần “con” thì xin nhường cho mấy ông thuộc “đỉnh cao trí tuệ” phụ trách “công tác khẩn trương, đả thông tư tưởng”. Gớm! Chữ với nghĩa!
Hoàng Lão Tà
|