|
TẠI SAO
TUỔI TRẺ HAY
MƠ?
Trước đây, tôi có làm
một bản thăm dò ý kiến gởi đến
một số các bạn trẻ. Câu hỏi thứ hai
đặt ra có lẽ đã làm cho một số bạn
ấy mỉm cười và tự nhủ : Ai mà lại
chả có lần mơ! Đúng thế, cho nên bài này sẽ
mở đầu bằng một lối giải thích
hiện tượng mơ được xem như là
một sự kiện để từ đó tìm hiểu
nguyên nhân của mơ mộng xét chung.Trong phần kết
luận , tôi sẽ cố gắng minh định một
thái độ đứng đắn của con
người trước một giấc mơ bị tan
vỡ.
. . .Một ngày nào đó,
thấy bạn trầm ngâm tư lự, sẽ có
người hỏi bạn : nghĩ gì vậy? Có thể
bạn sẽ trả lời :"Tôi không nghĩ gì cả ". Câu
trả lời của bạn, xét về mặt tâm lý, không
đúng hẳn vì thực ra trí ta bao giờ cũng bận
nghĩ tới một điều gì . Thành ra câu ấy có
thể có hai nghĩa:
Nghĩa thứ
nhất : Điều tôi nghĩ đến không có
đầu mà cũng không có đuôi, nó không thành hình rõ
rệt trong trí tôi, nếu phải đem trình bày với ai,
nó lại càng tối tăm hơn nữa.
Nghĩa thứ hai:
điều tôi nghĩ tới có đầu có đuôi
thực đấy, nhưng đầu ấy và đuôi
ấy là những bí mật của tôi, tôi không muôn tiết
lộ cho ai cái đầu sợ rằng người ta
đoán biết được cái đuôi chăng. . .
Dù hiểu theo
nghĩa thứ nhất hay nghĩa thứ hai thì mơ
vẫn là một tình trạng tâm lý trong đó tư
tưởng được diễn tiến một cách
tự nhiên không bị ta phê bình hay đổi hướng. Nói
một cách nôm na, mơ là một cách thèm muốn sống
cảnh sống tưởng tượng, cảnh sống
xảy ra thần tiên với hai chữ: "ước gi":
"Ước gì em hóa
kiếp chim
Trời mây muôn dặm bay tìm
gặp anh
Véo von nhảy hót bên mình
Vì anh khuây khỏa mối tình gia hương"
(Tương
Phổ, Thất khê)
Là tình trạng tâm lý,
mơ xuất hiện nơi mọi hữu thể bình
thường. Mơ là những giây phút ta quên đi thực
tế bên ngoài với những bó buộc của nó, quên
đi những lời khuyên răn của kinh nghiệm, quên
những đòi hỏi của các nguyên lý không xê dịch.
Mơ có thể ví như một khu vườn kín đáo
trong đó mỗi người tự Ỷ trồng lấy
giống cây mình ưa thích. Vườn mơ đặc
biệt được giới thanh niên thiếu nữ lui
tới song cũng lưu giữ trong ít khách trưởng
thành và người nghiêm chỉnh; đối với
một số người tuổi tác, mơ là dịp làm
sống lại trong họ cái dĩ vãng xa hoa mà họ nhìn
về với bao luyến tiếc.
Mơ xuất
hiện ở nhiều trình độ...
Ở trình độ
thấp kém nhất của mơ, ta có thứ mơ không
tưởng. Pháp dùng tiếng "rêvasserie" để nói lên
sự thụ động của trạng thái này và tính cách
xoàng xỉnh của những ước vọng đã
điều động sự diễn tiến của
tư tưởng. Người mơ viễn vông không bao
giờ chuyển mình sang hành động, họ bệ
vệ "cắm lều" trong mơ mộng , để
mặc dòng tư tưởng cuốn đi như chiếc
bèo phiêu dạt trên sóng nước.
Cao hơn một cấp,
ta có thứ mơ hoài vọng xen vào những khoảng
trống của hành động để bù đắp
những chán nản trước cuộc đời
thực tế:
"Giấc
mộng mười năm đã tỉnh rồi
Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi
Nghĩ đời lắm mối không bằng
mộng
Tiếc mộng bao nhiêu lại chán đời"
(Tản Đà, Giấc mộng con)
Cao hơn một
cấp nữa là thứ mơ sáng tạo, nó đưa con
người vào thế giới lộng lẫy của
nghệ thuật, thi ca:
"Mộng là mộng
tràn trề muôn vạn ức
Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên
Ta ước ao đầu đội mũ
triều thiên
Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng
Ca
những điệu ngọc vàng cao sang sảng
Lời vang xa truyền nhiễm đến vô song
Bầu hạo nhiên lồng lộng một
bầu trong. . ."
(Hàn Mặc Tử, Ngoài
vũ trụ)
Rồi, ở nấc thang trên cùng
của mơ mộng , ta có lối mơ suy tư về
hành động, lối mơ chuẩn bị hành
động . Theo lối này thì các bậc vĩ nhân,
những người họat động và các triết gia
đều có những giờ mơ mộng của họ .
Đây ta hãy lắng nghe ỀGiấc mộng của Lê
Đại Hành Ể, một trong những giấc mơ vĩ
đại:
"Ta sẽ đưa binh Nam đi vùng
vẫy
Khắp bốn
phương, trời đất mịt mùng tăm
Bầu mênh mông chuyển động
tiếng loa gầm
Tiếng gươm
ca, tiếng trống hồi ngựa hí
Binh Nam
Quốc như hải triều kiêu hãnh
Sẽ cuốn theo
cùng cát phủ, cùng mây nhanh, cùng gió mạnh
Đồng man di
rải rắc núi non Hời
Rồi bóng khiên
rợp mát bốn phương trời
Như thác
nước cao vang than vĩ đại
Quân xông xáo tới bên
bờ Thiên Trúc Hải
Và co cương trên
mặt đất cuối cùng
Đắm say nhìn
biển vỗ tới hư vô
Trong thế giới
vô biên khi cúi đầu khép nép
Binh sĩ ta sẽ cho
là đất hẹp
Ngọn trường
thương không đủ chỗ tung hoành
Muốn sức kình
được tự do ngang dọc
Biển bao la với
từng trời không góc
Cần mênh mông,
cần bát ngát, cần xa xôi
Nhưng không gian
chỉ cảm thấy mơ thôi"
(Tập II, Thi Nhân Việt Nam
tiền chiến)
II. Tại sạo tuổi trẻ hay
mơ?
Nhưng vấn
đề được đặt ra hôm nay là:"Tại sao
tuổi trẻ hay mơ?" Tôi nghĩ rằng nguyên nhân
của sự thèm khát mơ mộng nơi giới trẻ
phải được tìm trong chính những sự biến
đổi sâu xa và căn bản của họ trên ba
phương diện : thể lý, tinh thần và đạo
đức.
Về phương
diện thể lý: Ở tuổi
dậy thì , trước hết tưởng phải nói
tới sự xuất hiện của cái mà ta gọi là
"những đặc điểm của giới tính "
như: hình dáng, thể xác, giọng nói, bộ ngực, kinh
nguyệt vv. . . Nếu đi vào chi tiết của sự
tăng trưởng ấy, chúng ta sẽ nhận thấy
ở tuổi này, nơi con trai cũng như con gái, các khúc
xương, nhất là xương tay dài ra một cách mau
lẹ, khiến nam cũng như nữ đều có
những cử chỉ ngượng ngịu, vụng
về. Các thí nghiệm của Mendouse cho biết thêm : Vào
thời kỳ này : vòng ngực dãn ra , răng mọc
đầy đủ . Các bắp thịt rắn lại,
tim chuyển từ 184 gam sang 218 gam, áp lực động
mạch từ 13,7 sang 14,5 . ốc trước nặng 1,290 gam
sang 1,435 gam, tức đã đạt được sức
nặng bình thường của nó.
Sự tăng
trưởng mau lẹ này đòi hỏi ở thanh thiếu
niên rất nhiều calci và phôt- pho. Thời này họ dễ
cảm thấy mệt và cần ngủ mỗi đêm ít
nhất là 9 tiếng đồng hồ.
Nếu tuổi
dậy thì là tuổi của tăng trưởng, thì
một cách sâu xa hơn , và nếu lập lại kiểu
nói của các nhà sinh lý, ta sẽ bảo tuổi này là "khúc
quanh của các tuyến nội tiết "(le tournant
endocrinien). ở đây thiết tưởng nên
nhường lời cho một y sĩ : Bác sĩ Tanner tuyên
bố: "Về các tuyến nội tiết,người ta có
thể xác định rằng chúng tăng trưởng
rất mạnh mẽ nơi đa số thanh niên và
thiếu nữ. Lại có lối phân tiết mới do não thùy, các thần kinh
thượng thận và các hạch sinh dục phát ra".
Để
biết não thùy quan trọng như thế nào, ta chỉ
cần nhớ lại vai trò của nó là hướng
dẫn và chỉnh đốn những lối tiết
của các hạch khác.Quyền năng của não thùy trên
tính tình con người, trên Ỷ thức và lo âu cũng rất
đáng kể. Mà nơi người thanh niên thiếu
nữ, như ta sẽ thấy, những nguyên nhân, những
cơ hộI gây nên lo âu không phải là hiếm. Nào những
dao động của tuổi dậy thì trên phương
diện thể lỶ, nào việc chọn nghề, nào việc
khám phá ngỡ ngàng cái vũ trụ bao la của
người lớn. . . (ngỡ ngàng
vì thanh niên, thanh nữ giờ đây không còn là trẻ
con mà cũng chưa hẳn là người lớn ) Thêm vào đó, trí tưởng tượng
rất phong phú của tuổi này lại càng làm tăng thêm
sự lo âu đó.
Ngoài sự ngỡ
ngàng và lo âu nói trên , thiết tưởng còn phải nói
tới một thứ ngượng ngùng khác của
người thanh niên thiếu nữ, do sự tăng
trưởng quá đột ngột của dáng vóc họ và
đặc biệt nơi con trai, việc vỡ giọng có
thể là nguyên nhân gây đau khổ ít nhiều cho họ
trước những lời nhạo báng vô tình của
bạn hữu, bà con.
Trên phương
diện tinh thần : ta nhận thấy ở tuổi
dậy thì, khả năng lý luận được phát
triển một cách mạnh mẽ . Đặc biệt
giới thanh niên rất ưa thích tranh luận , họ tranh
luận hăng say, tranh luận không ngớt (có khi không
thấu triệt vấn đề đang tranh luận)
Thanh nữ tuy ít trổ tài hùng biện hơn các bạn
thanh niên , song nơi họ cái nhu cầu tham dự vào
" thế giới của người lớn " để
được người lớn hiểu biết và
chấp nhận mình không kém phần sâu xa và cấp bách.
Cả đôi bên đều ao ước được
tham dự , tham dự cách hoàn toàn và mới mẻ, nghĩa
là bằng sáng kiến của họ vào một thế
giới rộng lớn , bao la hơn thế giới họ
sống từ trước đến giờ.
Tuy nhiên, nếu
mức độ thành thục của suy luận nơi
người thanh niên thanh nữ có gia tăng, thì ngược lại ,cũng
vào thời này , hai năng lực thấy và nghe của
họ lại ngừng phát triển, mặc dù ở
tuổi này họ rất nhạy cảm trước
những màu sắc, tiết điệu và mùi hương .
Nơi cả hai,
ở thời kỳ này, sự chú ý cố ý ( attention
volontaire) bị suy giảm, nhường lối cho thứ
chú Ỷ tự phát (attention spontanée).
Ký ức của
họ cũng biến đổi một cách sâu đậm.
Ký ức khẩu thuộc (mémoire verbale)không còn
được dễ dàng như khi hồi lên bảy lên tám
(ta hiểu vì sao thanh thiếu nữ học thuộc lòng là
cả một sự khó khăn). Ký ức luận lý (mémoire
logique) cũng bị sa sút trước sức mạnh
hầu như vạn năng của kỶ ức hiện
tượng (thứ kỶ ức giúp ta hồi tưởng
lại cuộc sống dĩ vãng). Trí tưởng
tượng trở thành vương đế trong suôt
thời kỳ này với những ước mơ
tương lai phóng về những chân trời mới
lạ.
Đồng thời,
trí hiểu gia tăng nhưng lại được
chiết ra làm nhiều loại: Loại trí hiểu có tính
cách lý thuyết hay thực tế, loại trí hiểu chuyên
môn khoa học, văn chương hay nghệ thuật. . .
Đây chính là thời kỳ mà người bạn trẻ
cần được hướng nghiệp đúng theo
loại trí hiểu mà họ có.
Do những biến
đổi nói trên, thanh niên thiếu nữ thường có
những mối bận tâm rất đặc biệt
về tình yêu, nghề nghiệp và tôn giáo đi liền với
thứ nhân sinh quan rất "lý tưởng" trong đó nhu
cầu tuyệt đối độc đáo ở tuổi
họ phải đụng độ quá nhiều với
những thực tại tầm thường của
cuộc sống. Sự đụng độ này gây nên cái
phản ứng lập dị rất đặc biệt
nơi giới trẻ, lập dị trong ngôn ngữ, trong
cách điểm trang và phục sức , mà xét cho cùng, đó
chẳng qua chỉ là phương thế để
người bạn trẻ tự minh xác và bảo vệ
cái tôi của họ trong hoàn cảnh khó khăn (là phải
bước vào thế giới mình muốn tham dự
một cách hoàn toàn song chưa đủ khả năng bao
quát).
Xét về mặt
đạo đức, cái phản ứng tự vệ
của người bạn trẻ sẽ đặt vào
trong một bầu khí bất ổn chứa đầy mâu
thuẫn, giao tranh. Thực tế cho chúng ta thấy
những va chạm thường thi nhau tiếp diễn
về bất cứ một sự gì hay có khi lại không vì
gì cả. Thường thường , sự đụng
độ giữa thanh niên và cha mẹ chỉ do sự
bất mãn của thanh niên khi xin tiền mà không có, muốn
ăn mặc theo sở thích mà không được,muốn
tự mình chọn bạn mà cha mẹ không cho, muốn
đi dạo phố buổi chiều mà cha mẹ ngăn
cấm.. Sự đụng độ này thường kéo
theo một số phản ứng đôi khi thô bạo hay
bất nhã mà chúng ta nên hiểu như những lối
thể hiện vụng về và khốn khổ của
một cái tôi đang cảm thấy mình bị đe
dọa và muốn trở thành tuyệt đối.
Thế nhưng,
thế giới hữu hình này lại được
dệt bằng những cái tương đối, và ngay
cả khi ước muốn trở thành tuyệt
đối, người bạn trẻ cũng vấp
phải trên chính bản thân mình những cái hoàn toàn
tương đối. Do đó mà có sự dao động
của tuổi thanh niên, có cơn khủng hoảng
Ềgiải phóngỂ thể hiện qua lối sống ngang tàng hay
qua những tràng cảm nghĩ đen tối khiến
người bạn trẻ mới hôm qua là đứa con
ngoan của gia đình, là một học sinh gương
mẫu của lớp , nay trở thành một thanh niên (hay
một thanh nữ) ương ngạnh đối với
cũng chính môi trường ấy. Phải chăng vì cái
vũ trụ trước đây khi người thanh niên hay
thanh nữ còn thơ bé , đã được xem như là
vững chãi và có hệ thống thì nay lại xuất
hiện với họ như là biến dịch bất
tận và chứa chấp những đợi chờ lo
lắng ? Phải chăng vì trước đây phục tùng
quyền bính được xem như là bảo đảm
chắc chắn cho sự an toàn đạo đức cá
nhân, thì nay người thanh niên lại cảm thấy
như bị thôi thúc phải đi tìm sự an ninh ấy
bằng một thái độ khước từ và phản
kháng ? Làm sao cắt nghĩa được sự biến
đổi sâu sa ấy trong lối nhìn của thanh niên thanh
nữ về cuộc đời và về chính họ? Tôi
nghĩ rằng sự biến đổi ấy phải
được cắt nghĩa bằng cái nhu cầu
sống tự lập của họ, muốn tự mình xây
dựng lấy đời mình. Mà thực vậy, vào
thời này người thanh niên thanh nữ như Ỷ thức
ra một bổn phận mới cho nếp sống thiêng
liêng và đạo đức của mình,phải đạt
tới mẫu người lỶ tưởng bằng nỗ
lực của chính họ. Nhu cầu tự lực này
nếu được hướng dẫn, sẽ phát
triển một cách bình thường, tích cực và lành
mạnh (trường hợp sinh viên đi làm để
khỏi phiền đến cha mẹ..) Trái lại, nếu
chỉ nghe theo sở thích của tình cảm, nhu cầu này
có thể phát hiện một cách tiêu cực và bệnh
hoạn. Trường hợp thanh niên muốn đốt
giai đoạn, nhảy vào cái thế giới của
người lớn (phim ảnh, sách báo, kinh nghiệm)
sớm quá, chưa được chuẩn bị.
Lại nữa,
nếu thanh niên, theo định nghĩa là con người
chống đối (l'adolescent est un opposant) ấy chỉ vì
: Chưa đủ sức tạo cho mình một cá tính đầy
đủ, người thanh niên đã có một Ỷ chí rõ
rệt là không muốn giống người khác. Nhân cách
của họ, trước khi đạt được
một lối thể hiện tích cực phong phú, sẽ
bắt đầu bằng thái độ tiêu cực và
chống đối.
Sự chống
đối kéo theo nhu cầu lẩn thoát rất đặc
biệt của tuổi trẻ, và đời họ phải
vượt qua bên ngoài. Ra đâu? và ở đâu ra? Ố
Thưa: trước tiên là ra khỏi chính họ . Sự Ềra
ngoài này cắt nghĩa được phần nào lỶ do vì
sao thanh niên thanh nữ khó tự chủ, khó tự kiểm
điểm và tự điều khiển lấy mình. Vì
rằng, tự điều chế, tự chỉ huy bao hàm
rằng con người phải thực hiện một
sự thắng vượt những sở thích ngông
cuồng để tiến vào chiều sâu của tâm linh
đạo đức. Còn hỏi "ra đâu?" Tôi xin trả
lời:
Thường
thường, thanh niên sẽ ra ngoài đường
phố, tức đi vào cái vũ trụ náo động và
xê dịch của loài người.
Thanh nữ thì thích
đi vào cái vũ trụ lặng lẽ mơ màng và
tưởng tượng để ở đó dệt
những mộng vàng mơ ước ngày mai.
Nhưng, tại sao
lại phải lẩn thoát chính mình và cảnh sống
của mình để tìm ra bên ngoài như thế? Thưa: vì
tuổi trẻ có khuynh hướng đổ trách nhiệm
cho môi trường mình sống khi họ gặp phải khó
khăn (khủng hoảng nội tâm, bất trắc
ngoại tại). Khi đó, điều gì không xuôi chảy, ấy
là vì cha,vì mẹ,vì anh, vì em, vì thầy, vì bạn. . .chứ
không bao giờ hay rất ít khi vì mình.
Tâm lý học cũng
cắt nghĩa nhu cầu lẩn thoát của tuổi
trẻ như ước muốn được thoát
khỏi tầm tay của người lớn, khỏi
sự điều khiển của người lớn. Cho dù người lớn có
hòa đồng vui vẻ cùng họ, họ vẫn cho
rằng người lớn vẫn không thật,
người lớn cứng cõi, người lớn nghiêm khắc,
hay gì gì nữa. . .ấy chỉ vì người lớn,
dưới mắt tuổi trẻ, là hiện thân của
quyền bính. Chỉ có thế thôi.
Vâng, chỉ có thế
thôi, nhưng điều đó cũng đủ để
lật đổ cả hệ thống giá trị ngàn
xưa và nêu lên một khuyết điểm khác của
tuổi trẻ: tính
khí bất thường hay thay đổi của họ.
Mới hôm qua Trung đề cao một nhân vật,Trung
tưởng như mình có thể liều chết để
bảo vệ danh giá cho người mình ngưỡng
mộ, thì hôm nay Trung lại chỉ trích thậm tệ
cũng chính nhân vật ấy và cho rằng việc
ngưỡng mộ đó, đề cao của mình ngày hôm
qua là một việc làm phi lỶ điên rồ.
Nói như thế không
phải bảo người trẻ sống một cách
lạnh lùng chai đá. Không, không ai "si tình" bằng thanh niên
thiếu nữ, mặc dù lối si tình của họ có tính
chất nhất thời và cực đoan như chính tính
tình của họ. Tất cả những khó khăn của
tuổi thanh niên đều thoát thai từ tình trạng
thiếu thăng bằng của họ. Một tình yêu
muốn được bền bỉ cần
được thao luyện theo một kỷ luật nào
đó, mà người thanh niên lạI xem kỷ luật
như một gánh nặng cần phải quăng đi. Hôm
qua còn bé bỏng , người bạn trẻ cần
được yêu thương. Tình yêu thụ động
trước đây nhường lối cho lối tình yêu
chủ động. Tình yêu này bắt đầu thể
hiện bằng cách chối bỏ tất cả những
thứ tình cảm tự nhiên vẫn có từ trước
, đặc biệt đối với gia đình
để hướng về phía bạn bè. Giai đoạn
này sẽ thấy xuất hiện những tình cảm riêng
tư khắng khít, cần được hướng
dẫn để khỏi rơi vào lầm lạc cực
đoan.
Tình yêu này,
người bạn trẻ không chỉ đem trao tặng
cho những con người sống động như mình,
đồng phái hay khác phái với mình, mà còn đem phân phát
cho cho cả thế giới sự vật, như một lý
tưởng, một phong trào vv. . . Tuổi trẻ, trong
nhiều trường hợp, là tuổi của bất
lực nhưng cũng là tuổi của Ỷ chí hào hùng.
Bất lực đối với gia đình , người
thanh niên lại có thể làm tất cả cho cộng
đồng bên ngoài. ễch kỷ đối với gia đình,
khép kín trước cha mẹ, thì ngược lạI,
họ tỏ ra cởi mở, hào hiệp với bạn bè,
quảng đại và tận tụy đối với
đoàn thể họ gia nhập (hướng đạo,
công giáo tiến hành vv. . .).
Một khuynh
hướng khác của tuổi trẻ được ghi
nhận: Khuynh hướng cảm phục. Người
thanh niên dễ đả phá nhưng cũng dễ nghiêng
mình trước tài ba và giá trị. Nhưng đâu là giá
trị đích thực phải kiếm tìm, đó mới là
điều quan trọng. Vì thực tế ngày nay cho chúng ta
thấy, và đây là một sự kiện đau
thương gây ưu tư cho bao kẻ thức thời và
nhà giáo dục, rất nhiều thanh niên thiếu nữ, thay
vì đi tìm những giá trị, lại đắm mình trong
những cuộc vui chơi dưới mức tầm
thường. Lầm giá trị ? hay cố gắng tìm
dẽ dãi ?
Tuổi thanh niên
cũng là tuổi kém tin tưởng. Trên phương
diện tín ngưỡng, phần nhiều những thắc
mắc, những khó khăn, những vấn nạn không
được diễn đạt rõ ràng, nó ấm ức
bên trong và gây nên một sự dồn ép nội tại,
khiến cho thế quân bình của người trai trẻ
thêm sa sút. Sự dồn ép đó một khi được
giải tỏa bằng đối thoại chân thành và
bằng thiện chí học hỏi thì những thái
độ tiêu cực trước sẽ biến thái,
nhường chỗ cho một lối sống tích cực,
phong phú hơn nhiều. Biết bao nhiêu gương mặt
hào hùng xuất hiện từ cuộc "trở về" này
đã được ghi nhận trong những trang sử
Công giáo qua cuốn "Les convertis du 20è siècle"! Do đó, trả
lại hay làm sáng tỏ niềm tin cho thanh niên, không phải
là một ảo vọng vì tuổi thanh niên, theo tôi . . .
trước hết là tuổi hi vọng , tuổi của
những dự ước bao la. Trong thanh niên tiềm tàng
một khả năng dâng hiến khiến họ nhìn
đời như quá chật hẹp không chứa nổi
hoài bão vô biên của mình. Thanh niên, xét theo khía cạnh này, là
một con người tuyệt đối. Và vì là tuyệt
đối nên họ quan niệm rằng cái thế giới
vừa mới vừa rộng mà họ muốn đi vào
để đóng vai trò trọng yếu cho bản thân,
phải không chứa đựng một điều chỉ
khiếm khuyết. Thế nhưng, thực tế cho
thấy cái thế giới đó còn khiếm khuyết và
những người gần gũi họ, cách riêng, cha
mẹ họ cũng không " hoàn toàn " như họ
tưởng, hay đúng hơn như họ muốn.
Thế nên, thời chuyển tiếp này gặp nhiều khó
khăn, ngay cả trong bầu khí xã hội và gia đình bình
thường.
Tất cả
những nhận xét trên đây về thái độ của
người thanh niên trước cuộc sống đã hé
mở cho ta thấy khá nhiều nguyên nhân cắt nghĩa vì
sao tuổi trẻ hay mơ mộng . Ta có thể tóm lại
thành 4 nguyên nhân chính:
1. Tuổi trẻ hay
mơ vì mơ bao hàm một sự bất mãn với
hiện tại.
Cuộc chạm trán
xung khắc với thế giới thực tế (gia
đình, học đường, xã hội) khiến
tuổi trẻ thường tìm bù đắp những
nỗi lo âu của mình bằng mộng tưởng.
Mơ, đối
với tuổi trẻ, chẳng khác nào "vừng thái
dương có thể mang những màu sắc quyến rũ
nhất bao phủ lên một khoảng đất cằn
cỗi nhất, một cuộc đời buồn tẻ
và đen tối nhất".
2. Tuổi trẻ hay
mơ vì mơ trả lời cho nhu cầu lẩn thoát
của họ, nghĩa là nhu cầu được thoát ra ngoài
cảnh sống thực sự.
Họ mơ qua sách
vở, báo chí, phim ảnh, mơ để lẩn thoát
thực tại, có khi để lên án thực tại.
Họ mơ để khai triển những khuynh
hướng bị dồn ép hay những tiềm thể
chưa được mãn nguyện.
3. Tuổi trẻ hay
mơ vì mơ đi kèm với ý định dự liệu
tương lai, mơ xuất hiện khi con người bận tâm
vạch một đường tiến vào ngày mai. Ngay
cả khi trong mơ mộng người bạn trẻ
cố xây những lâu đài trên không trung chăng nữa thì
tựu trung cũng là những biểu thị về
tương lai qua mơ mộng, ta thấy biểu hiện
Ỷ chí của một người muốn nắm lấy
tương lai. . . và làm chủ đời mình.
4. Tuổi trẻ hay
mơ vì mơ trả lời phần nào cho nhu cầu
tuyệt đối của họ. Đây ta lắng
nghe tiếng nói của một người bạn trẻ:
"Ta
đợi người đây, tuyệt đối ơi!
Dẫu xa, xa cách mấy
phương trời. . ."
Vì rằng:
"Ta lớn
lên, bước đường không giới hạn
Có lẽ đâu kìm giữ bởi
tay người
Tuổi hoa hồng kiêu hãnh
của ta ơi
Tình đã hẹn ở trên
đường nắng mới!. . ."
(Đinh Hùng, Khi mới lớn)
Nói rằng mỗi tâm
hồn trẻ là một nhân chứng đặc biệt
của Đấng vô hình, điều đó thiết
tưởng không quá đáng khi ta nghĩ đến cái
khả năng dâng hiến tiềm tàng trong họ khiến
họ có thể sống chết vì một giá trị,
một lỶ tưởng. Nhu cầu tuyệt đối này
được minh chứng rõ rệt qua câu nói huyền
nhiệm của Thánh Augutinô: "Tâm hồn tôi thao thức cho
đến bao giờ được yên nghỉ trong Chúa
mới thôi".
III. Tuổi trẻ hay mơ?
Kết quả
của hơn một nghìn bản thăm dò Ỷ kiến cho
biết: Hầu hết thanh niên nam nữ đều mơ
một tương lai sáng lạn, trong đó có ái tình được
thành tựu, sự nghiệp được vẻ vang. Một
số bạn trẻ mơ đất nước
được thanh bình, xã hội tốt đẹp;
một số khác nuôi hi vọng đạt chí lớn, hoàn
thành mẫu người lỶ tưởng trên hai phương
diện đạo đức và tôn giáo.
IV. Mơ có một giá trị nào không?
Thường
thường người ta tỏ ra nghiêm khắc
đối với những con người mơ mộng .
Như Julien Green đã có lần tuyên bố:"Những đại
lộ của mơ màng là nơi các tà thần ưa đi
dạo". Tuy nhiên, một sự lên án tuyệt
đối thiết tưởng sẽ là bất công.
Đành rằng mơ
mộng viễn vông là vô ích, có khi còn thiếu lành mạnh
nếu nó chiếm hết cả nghị lực con
người
Đây, ta nghe Phạm
Hầu nói lại với chúng ta cái kinh nghiệm đáng
buồn của ông:
"Thuở
nhỏ đêm nằm mơ thấy bướm
Giờ
không mơ bướm lại mơ thơ
Đời tôi nếu
rụng bao nhiêu sắc
Cũng
bởi vì tôi quá mộng hờ"
Nhưng, nếu chúng
ta không thể lên án thứ mơ mộng xen vào những
khoảng của hành động để bù đắp
những xấu xa của cuộc thế, thì làm sao ta có
thể khai trừ mà không xem như bình thường và
hữu ích thứ mơ suy tư về hành động,
thứ mơ chuẩn bị cho hành động? Những
bậc vĩ nhân, những nhà hoạt động, các
triết gia đều đã chẳng có những giờ
mơ mộng của họ sao? Quả thực, lịch
sử nhân loại đưa ra hai con đường thẳng
song song:
Một bên: những
thi nhân, nghệ sĩ , triết gia và các vị thánh;
những con ngưòi mơ mộng.
Một bên: những
nhà chinh phục và một bên: những kẻ hiền hòa.
Hai bên song hành lặng
lẽ, đôi khi gặp nhau, ảnh hưởng trên nhau
một cách nào đó. Nhưng có khi con người sắt
lại làm cho bầu khí trở thành ngột ngạt đối
với kẻ hay mơ: Ta nhớ Thánh Phanxicô nghèo khó đã
phải từ giã thành Assise ra đi. . . Tư tưởng và
mơ mộng đôi khi phải chịu số kiếp
lưu đày: ta nhớ thời kỳ các nhà Bác Học và
các nhà Nhân Bản học Hy Lạp phải di cư sang Âu
Châu khi người Thổ Nhi kỳ chiếm giữ
thủ đô Constantinople. . . Con người sắt có thể
giết chết con người mộng song giấc mơ
của người bị giết sẽ kéo dài trong kẻ
khác như một âm thanh bất tận. . .
Tất cả
những gì ta gọi là văn minh nghĩa là cái làm nên vẻ
đẹp cao quí của con người đều thoát thai
từ mơ mộng. Ngay cả nền văn minh kỹ
thuật cũng phát xuất từ mơ mộng, chính vì trong
mơ mộng mà những khám phá vĩ đại của
khoa học đã phát hiện. Một người thợ,
xét về mặt nhân loại, chỉ có giá trị khi họ
mơ mộng. Tôi muốn nói: Một người thợ
chỉ vượt qua con kiến hay con ong khi anh biết
đem vào trong nghề nghiệp của anh một ít tinh
thần chiêm ngưỡng, nghĩa là cái Ỷ thức của
anh về sự đẹp.
V. Đâu là thái độ đúng đắn của
con người trước những giấc mơ bị
tan vỡ?
Một trong những
vấn đề thương đau nhất của kinh
nghiệm loài người là ít khi thấy những dự
ước mình thành tựu. Những hi vọng của
buổi thiếu thời và những hứa hẹn của
buổi trưởng thành chúng ta là những bản hòa âm còn
dang dở. Trong một bức họa thời danh, George
Frédéric Watts đã vẽ hi vọng như một nhân vật
lặng lẽ ngồi trên chóp đỉnh của một
hành tinh, đầu cúi xuống một cách buồn rầu
và tay đang bấm một dây đàn phong cầm duy
nhất còn nguyên vẹn. Trong chúng ta, ai là người
chưa có kinh nghiệm cái đau xót khi thấy hi vọng
của mình bị tan vỡ và những giác mơ của minh
bị hủy diệt?.
Chúng ta đã phản
ứng như thế nào?
Một phản
ứng đầu tiên có thể là: chua chát, oán hận.
Người phản ứng theo lối này sẽ có một
thái độ lãnh đạm,một quả tim lạnh và
một niềm oán hận chua cay đối với Chúa,
đối với mọi người sống quanh họ
và đối với chính họ. Không thể đẩy Chúa
đi cũng không thể xê dịch cuộc đời,
họ biến oán hận thành thù nghịch đối
với con người khác. Họ không xin ai cả mà
cũng không màng xin ai tình thương. Họ không tín
nhiệm vào ai và cũng chẳng chờ mong ai tín nhiệm
vào mình.
Loại phản
ứng này đầu độc tâm hồn và phá hủy nhân
cách. Không gì làm hại con người bằng phản
ứng đó. Khoa y dược cho ta biết những
chứng bệnh như: sưng khớp xương,
bệnh ung thư dạ dày và bệnh suyễn đôi khi
đã khởi phát bởi những tâm tình chua cay oán hận.
Loại y khoa chuyên trị những bệnh thể xác thoát
thai từ một khiếm khuyết tinh thần cũng cho
chúng ta thấy một sự oán hận xâu xa có thể gây
nên một sự đau yếu trầm trọng của cơ thể.
Một phản
ứng thứ hai khá thông thường là những
người đã sống cái kinh nghiệm đau buồn
thấy mộng mình tan vỡ thì hoàn toàn khép mình lại.
Họ không chấp nhận ai trong cuộc đời mình và
cũng từ khước không đi vào cuộc đời
của ai. Những người này đã bỏ cuộc
trong cuộc giao tranh với sự sống, họ mất
hứng thú về cuộc đời và muốn thoát ra ngoài
vòng cuộc sống. Quá vô tư để yêu thương
và quá lãnh đạm để ghét bỏ, quá vô tình
để trở nên ích kỷ, quá cứng cỏi
để cảm thấy niềm vui và quá lạnh lùng
để cảm thấy phiền muộn, họ không
sống cũng chẳng chết, họ chỉ "có
đấy" mà thôi, nghĩa là họ chỉ đi vào
hiện hữu như viên sỏi kia hiện hữu ngoài
sân.Mắt họ mờ đi trước cảnh
đẹp của thiên nhiên, tai họ đóng lại
trước những âm thanh của nhạc hòa tấu và
ngay đến bàn tay họ cũng trở nên chai đá trước
sự vuốt ve êm dịu của một trẻ thơ.
Trong họ không có gì còn lại của cái đã làm nên
cuộc đời. Cái còn lại, phải chăng đó chỉ
là những cử chỉ vô hồn của một cuộc
sống trơ trụi?
Phản ứng này
phát xuất từ Ỷ muốn chối bỏ sự sống.
Những nhà tâm bệnh học bảo rằng phẩm cách
của những người lẩn trốn cuộc sống
thực tại trở nên yếu dần để đi
tới chỗ biến mất hẳn.
Một phản
ứng thứ ba trước những ngang trái của
cuộc đời là chấp nhận thuyết định
mệnh, theo đó mọi sự đến như phải
đến và tất cả những biến cố
đều được chỉ định một cách
tất yếu. Người có phản ứng này sẽ
đi đến chỗ thoái vị trước cái mà họ
gọi là định mệnh, họ tự xem mình như những
đứa trẻ mồ côi bị lạc lõng trong không gian
mênh mông, ghê rợn, bởi họ tin rằng con
người không sử dụng được tự do nên
họ đã thoái thác trước suy tư và quyết
định, để mặc cho những biến cố
bên ngoài quyết định dùm họ.
Họ không bao giờ
tích cực cố gắng đổi thay hoàn cảnh
của cuộc đời mà chỉ thụ động
để hoàn cảnh cuốn đi. Thái độ này là
một sự tự vẫn tinh thần và tâm lỶ. Bởi vì
tự do thuộc bản tính của nhân loại,
người chủ trương thuyết định
mệnh, chối bỏ tự do, sẽ không còn là
người nữa mà chỉ là một hình múa rối.
Vậy thái độ
đúng đắn phải có sẽ là:
Ừ Thái độ tích
cực của Jérémie: "Đó là một tai họa
đến với tôi, tôi vui lòng cam chịu"
Ừ Thẳng thắn nhìn
vào những mảnh vở của giấc mơ. Lẩn
tránh vấn đề bằng cách xua đuổi sự
thất vọng khỏi tâm trí sẽ đưa tới
sự dồn ép tâm linh, bất lợi. Trái lạI, hãy
tự đặt mình trước sự thất bại và
suy xét một cách can đảm ỂLàm sao tôi có thể
đổi trở ngại thành một điểm khởi
hành mới?Ể.
Hầu hết
những gì xảy đến cho ta đều
được dệt theo Ỷ định của Thiên Chúa.
Nghĩ như thế có thể kết nên những mối
dây thiện cảm. Nghĩ như thế có thể bẽ
gãy kiêu ngạo của chúng ta. Thánh giá tạo nên do sự ác
độc của loài người lại được
dệt nên bởi Thiên Chúa trong tấm thảm cứu
chuộc thế gian.
Trong số những
nhân vật ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới,
nhiều người đã biến đổi chông gai thành
những vòng hoa chiến thắng. Charles Darwin bị một
chứng bệnh kinh niên. Robert Louis Stevenson bị nhiễm
trùng lao, Heller Keller, vừa điếc lại vừa mùẨ
tất cả đã phản ứng không mảy may chua chát,
cũng không buông xuôi cho định mệnh, trái lạI,
nhờ Ỷ chí dũng cảm của mình, họ biến
đổi những hoàn cảnh tiêu cực thành những
nền móng tích cực. Người viết tiểu sử
của Georges Fredéric Haendel đã ghi những dòng chữ
như sau:
"Sức khỏe và gia
tài của ông đã xuống tới độ thấp
nhất. Cánh hông bên mặt của ông đã bị tê liệt
và tất cả tiền tài của ông đã bị mất
sạch. Chủ nợ đến bắt ông tại nhà và
đem ông đi tống ngục. Trong giây lát, Frederic Haendel
bị cám dỗ bỏ cuộc tranh đấu với
đời... nhưng ông đã kịp phản tỉnh và
viết nên tác phầm vĩ đại: "Đấng
Messia".
"Tôi hi vọng gặp
anh em khi tôi đến Bồ Đào Nha" (Rom 15,24). Một
trong những giấc mơ tha thiết của Phaolô là
đến Bồ đào Nha để rao giảng Tin Mừng.
Trên đường về, ngài ao ước sẽ
được tiếp xúc trực tiếp với nhóm giáo
dân can đảm thành Roma. Càng nghĩ tới điều
ấy bao nhiêu lòng thánh nhân
lại sung sướng bấy nhiêu. Hành lỶ của ngài
đã được chuẩn bị và Phaolô chỉ còn
chờ đợi giờ tốt đẹp để
đem Tin Mừng đến thủ đô La Mã và Bồ
Đào Nha, trang trọng lần lên những bậc cấp
của Đế Quốc.
Hi vọng dạt dào
biết mấy! Song chẳng bao giờ Phaolô đến La
Mã đúng như lòng Ngài mơ ước. Bởi
Đức Tin dũng cảm của ngài vào Đức Kitô,
Phaolô đã đến La Mã thật, nhưng đến
với tư cách là tù nhân, để sau đó bị cấm
cố trong xà lim nhỏ hẹp. Chẳng bao gìơ Phaolô
được đặt chân trên những con
đường đầy bụi của Bồ Đào Nha.
Chẳng bao giờ ngài được trông thấy
những sườn núi lượn quanh và đời
sống sầm uất của xứ này. Phaolô đã
được điệu dẫn đến cái chết,
chết để minh chứng tấm lòng chung thủy
của ngài với Đức Kitô. Cuộc đời
của Phaolô là lịch sử thương tâm của
một giấc mơ bị tan vỡ.
Nhưng, vẻ
đẹp hào hùng và huyền nhiệm của Phaolô là ở
chỗ ngài đã biến ngục thất của mình thành
nơi cứu độ. Trong cuộc hành hương vừa
qua tai La Mã, tôi đã được hân hạnh trở
lại viếng ngục thất của vị Tông
Đồ Dân ngoại lần thứ hai. Nơi đây
người hướng dẫn khách hành hương đã
cho chúng tôi biết thánh nhân đã cải hoán chính nơi đây
và rửa tội năm trăm người cùng chung số
phận với ngài. Cho hay mọi cuộc sống cao
thượng, có ý nghĩa đều bao gồm những
chiến thắng trên chính mình và trên hoàn cảnh.
Nữ
tu Diệu Khánh
|