English |  Français |  Home |  Links |  Photos |  Name list |  Newsletter |  Vietnamese
logo
1903-2003



Cach doc Unicode

Thơ kêu gọi của Sr Diệu Khánh

Đôi lời giới thiệu Jeanne d'Arc

Danh sách cựu học-sinh Jeanne d'Arc

Hinh cựu học-sinh Jeanne d'Arc xua

Hinh cựu học-sinh Jeanne d'Arc, 2003

Với o học trường ma xơ; Anh Nga.
Jeanne d'Arc của tôi. Bích Vân
Xem thêm: khoahoc.net

Tuổi Ngọc
Nguyễn Lý Tưởng

Tri ân của Ban Tổ Chức

Hinh kỷ niệm Jeanne d'Arc, 27/12/2003

TẠI  SAO  TUỔI  TRẺ  HAY  MƠ?

Trước đây, tôi có làm một bản thăm dò ý kiến gởi đến một số các bạn trẻ. Câu hỏi thứ hai đặt ra có lẽ đã làm cho một số bạn ấy mỉm cười và tự nhủ : Ai mà lại chả có lần mơ! Đúng thế, cho nên bài này sẽ mở đầu bằng một lối giải thích hiện tượng mơ được xem như là một sự kiện để từ đó tìm hiểu nguyên nhân của mơ mộng xét chung.Trong phần kết luận , tôi sẽ cố gắng minh định một thái độ đứng đắn của con người trước một giấc mơ bị tan vỡ.

. . .Một ngày nào đó, thấy bạn trầm ngâm tư lự, sẽ có người hỏi bạn : nghĩ gì vậy? Có thể bạn sẽ trả lời :"Tôi không nghĩ gì cả ". Câu trả lời của bạn, xét về mặt tâm lý, không đúng hẳn vì thực ra trí ta bao giờ cũng bận nghĩ tới một điều gì . Thành ra câu ấy có thể có hai nghĩa:

Nghĩa thứ nhất : Điều tôi nghĩ đến không có đầu mà cũng không có đuôi, nó không thành hình rõ rệt trong trí tôi, nếu phải đem trình bày với ai, nó lại càng tối tăm hơn nữa.

Nghĩa thứ hai: điều tôi nghĩ tới có đầu có đuôi thực đấy, nhưng đầu ấy và đuôi ấy là những bí mật của tôi, tôi không muôn tiết lộ cho ai cái đầu sợ rằng người ta đoán biết được cái đuôi chăng. . .

Dù hiểu theo nghĩa thứ nhất hay nghĩa thứ hai thì mơ vẫn là một tình trạng tâm lý trong đó tư tưởng được diễn tiến một cách tự nhiên không bị ta phê bình hay đổi hướng. Nói một cách nôm na, mơ là một cách thèm muốn sống cảnh sống tưởng tượng, cảnh sống xảy ra thần tiên với hai chữ: "ước gi":

"Ước gì em hóa kiếp chim
  Trời mây muôn dặm bay tìm gặp anh
  Véo von nhảy hót bên mình
  Vì anh khuây khỏa mối tình gia hương"
                                 (Tương Phổ, Thất khê)

Là tình trạng tâm lý, mơ xuất hiện nơi mọi hữu thể bình thường. Mơ là những giây phút ta quên đi thực tế bên ngoài với những bó buộc của nó, quên đi những lời khuyên răn của kinh nghiệm, quên những đòi hỏi của các nguyên lý không xê dịch. Mơ có thể ví như một khu vườn kín đáo trong đó mỗi người tự Ỷ trồng lấy giống cây mình ưa thích. Vườn mơ đặc biệt được giới thanh niên thiếu nữ lui tới song cũng lưu giữ trong ít khách trưởng thành và người nghiêm chỉnh; đối với một số người tuổi tác, mơ là dịp làm sống lại trong họ cái dĩ vãng xa hoa mà họ nhìn về với bao luyến tiếc.

Mơ xuất hiện ở nhiều trình độ...

Ở trình độ thấp kém nhất của mơ, ta có thứ mơ không tưởng. Pháp dùng tiếng "rêvasserie" để nói lên sự thụ động của trạng thái này và tính cách xoàng xỉnh của những ước vọng đã điều động sự diễn tiến của tư tưởng. Người mơ viễn vông không bao giờ chuyển mình sang hành động, họ bệ vệ "cắm lều" trong mơ mộng , để mặc dòng tư tưởng cuốn đi như chiếc bèo phiêu dạt trên sóng nước.

Cao hơn một cấp, ta có thứ mơ hoài vọng xen vào những khoảng trống của hành động để bù đắp những chán nản trước cuộc đời thực tế:

"Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi
  Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi
  Nghĩ đời lắm mối không bằng mộng
  Tiếc mộng bao nhiêu lại chán đời"
                        (Tản Đà, Giấc mộng con)

Cao hơn một cấp nữa là thứ mơ sáng tạo, nó đưa con người vào thế giới lộng lẫy của nghệ thuật, thi ca:

"Mộng là mộng tràn trề muôn vạn ức
  Tình thơm tho như ngấn lệ còn nguyên
  Ta ước ao đầu đội mũ triều thiên
  Và tắm gội ở trong nguồn ánh sáng
  Ca những điệu ngọc vàng cao sang sảng
  Lời vang xa truyền nhiễm đến vô song
  Bầu hạo nhiên lồng lộng một bầu trong. . ."
                             (Hàn Mặc Tử, Ngoài vũ trụ)

Rồi, ở nấc thang trên cùng của mơ mộng , ta có lối mơ suy tư về hành động, lối mơ chuẩn bị hành động . Theo lối này thì các bậc vĩ nhân, những người họat động và các triết gia đều có những giờ mơ mộng của họ . Đây ta hãy lắng nghe ỀGiấc mộng của Lê Đại Hành Ể, một trong những giấc mơ vĩ đại:

"Ta sẽ đưa binh Nam đi vùng vẫy
Khắp bốn phương, trời đất mịt mùng tăm
Bầu mênh mông chuyển động tiếng loa gầm
Tiếng gươm ca, tiếng trống hồi ngựa hí
Binh Nam Quốc như hải triều kiêu hãnh
Sẽ cuốn theo cùng cát phủ, cùng mây nhanh, cùng gió mạnh
Đồng man di rải rắc núi non Hời
Rồi bóng khiên rợp mát bốn phương trời
Như thác nước cao vang than vĩ đại
Quân xông xáo tới bên bờ Thiên Trúc Hải
Và co cương trên mặt đất cuối cùng
Đắm say nhìn biển vỗ tới hư vô
Trong thế giới vô biên khi cúi đầu khép nép
Binh sĩ ta sẽ cho là đất hẹp
Ngọn trường thương không đủ chỗ tung hoành
Muốn sức kình được tự do ngang dọc
Biển bao la với từng trời không góc
Cần mênh mông, cần bát ngát, cần xa xôi
Nhưng không gian chỉ cảm thấy mơ thôi"
            (Tập II, Thi Nhân Việt Nam tiền chiến)

II. Tại sạo tuổi trẻ hay mơ?

Nhưng vấn đề được đặt ra hôm nay là:"Tại sao tuổi trẻ hay mơ?" Tôi nghĩ rằng nguyên nhân của sự thèm khát mơ mộng nơi giới trẻ phải được tìm trong chính những sự biến đổi sâu xa và căn bản của họ trên ba phương diện : thể lý, tinh thần và đạo đức.

Về phương diện thể lý: Ở tuổi dậy thì , trước hết tưởng phải nói tới sự xuất hiện của cái mà ta gọi là "những đặc điểm của giới tính " như: hình dáng, thể xác, giọng nói, bộ ngực, kinh nguyệt vv. . . Nếu đi vào chi tiết của sự tăng trưởng ấy, chúng ta sẽ nhận thấy ở tuổi này, nơi con trai cũng như con gái, các khúc xương, nhất là xương tay dài ra một cách mau lẹ, khiến nam cũng như nữ đều có những cử chỉ ngượng ngịu, vụng về. Các thí nghiệm của Mendouse cho biết thêm : Vào thời kỳ này : vòng ngực dãn ra , răng mọc đầy đủ . Các bắp thịt rắn lại, tim chuyển từ 184 gam sang 218 gam, áp lực động mạch từ 13,7 sang 14,5 . ốc trước nặng 1,290 gam sang 1,435 gam, tức đã đạt được sức nặng bình thường của nó.

Sự tăng trưởng mau lẹ này đòi hỏi ở thanh thiếu niên rất nhiều calci và phôt- pho. Thời này họ dễ cảm thấy mệt và cần ngủ mỗi đêm ít nhất là 9 tiếng đồng hồ.

Nếu tuổi dậy thì là tuổi của tăng trưởng, thì một cách sâu xa hơn , và nếu lập lại kiểu nói của các nhà sinh lý, ta sẽ bảo tuổi này là "khúc quanh của các tuyến nội tiết "(le tournant endocrinien). ở đây thiết tưởng nên nhường lời cho một y sĩ : Bác sĩ Tanner tuyên bố: "Về các tuyến nội tiết,người ta có thể xác định rằng chúng tăng trưởng rất mạnh mẽ nơi đa số thanh niên và thiếu nữ. Lại có lối phân tiết mới  do não thùy, các thần kinh thượng thận và các hạch sinh dục phát ra".

Để biết não thùy quan trọng như thế nào, ta chỉ cần nhớ lại vai trò của nó là hướng dẫn và chỉnh đốn những lối tiết của các hạch khác.Quyền năng của não thùy trên tính tình con người, trên Ỷ thức và lo âu cũng rất đáng kể. Mà nơi người thanh niên thiếu nữ, như ta sẽ thấy, những nguyên nhân, những cơ hộI gây nên lo âu không phải là hiếm. Nào những dao động của tuổi dậy thì trên phương diện thể lỶ, nào việc chọn nghề, nào việc khám phá ngỡ ngàng cái vũ trụ bao la của người lớn. . . (ngỡ ngàng  vì thanh niên, thanh nữ giờ đây không còn là trẻ con mà cũng chưa hẳn là người lớn ) Thêm vào đó,  trí tưởng tượng rất phong phú của tuổi này lại càng làm tăng thêm sự lo âu đó.

Ngoài sự ngỡ ngàng và lo âu nói trên , thiết tưởng còn phải nói tới một thứ ngượng ngùng khác của người thanh niên thiếu nữ, do sự tăng trưởng quá đột ngột của dáng vóc họ và đặc biệt nơi con trai, việc vỡ giọng có thể là nguyên nhân gây đau khổ ít nhiều cho họ trước những lời nhạo báng vô tình của bạn hữu, bà con.

Trên phương diện tinh thần : ta nhận thấy ở tuổi dậy thì, khả năng lý luận được phát triển một cách mạnh mẽ . Đặc biệt giới thanh niên rất ưa thích tranh luận , họ tranh luận hăng say, tranh luận không ngớt (có khi không thấu triệt vấn đề đang tranh luận) Thanh nữ tuy ít trổ tài hùng biện hơn các bạn thanh niên , song nơi họ cái nhu cầu tham dự vào " thế giới của người lớn " để được người lớn hiểu biết và chấp nhận mình không kém phần sâu xa và cấp bách. Cả đôi bên đều ao ước được tham dự , tham dự cách hoàn toàn và mới mẻ, nghĩa là bằng sáng kiến của họ vào một thế giới rộng lớn , bao la hơn thế giới họ sống từ trước đến giờ.

Tuy nhiên, nếu mức độ thành thục của suy luận nơi người thanh niên thanh nữ có gia tăng,  thì ngược lại ,cũng vào thời này , hai năng lực thấy và nghe của họ lại ngừng phát triển, mặc dù ở tuổi này họ rất nhạy cảm trước những màu sắc, tiết điệu và mùi hương .

Nơi cả hai, ở thời kỳ này, sự chú ý cố ý ( attention volontaire) bị suy giảm, nhường lối cho thứ chú Ỷ tự phát (attention spontanée).

Ký ức của họ cũng biến đổi một cách sâu đậm. Ký ức khẩu thuộc (mémoire verbale)không còn được dễ dàng như khi hồi lên bảy lên tám (ta hiểu vì sao thanh thiếu nữ học thuộc lòng là cả một sự khó khăn). Ký ức luận lý (mémoire logique) cũng bị sa sút trước sức mạnh hầu như vạn năng của kỶ ức hiện tượng (thứ kỶ ức giúp ta hồi tưởng lại cuộc sống dĩ vãng). Trí tưởng tượng trở thành vương đế trong suôt thời kỳ này với những ước mơ tương lai phóng về những chân trời mới lạ.

Đồng thời, trí hiểu gia tăng nhưng lại được chiết ra làm nhiều loại: Loại trí hiểu có tính cách lý thuyết hay thực tế, loại trí hiểu chuyên môn khoa học, văn chương hay nghệ thuật. . . Đây chính là thời kỳ mà người bạn trẻ cần được hướng nghiệp đúng theo loại trí hiểu mà họ có.

Do những biến đổi nói trên, thanh niên thiếu nữ thường có những mối bận tâm rất đặc biệt về tình yêu, nghề nghiệp và tôn giáo đi liền với thứ nhân sinh quan rất "lý tưởng" trong đó nhu cầu tuyệt đối độc đáo ở tuổi họ phải đụng độ quá nhiều với những thực tại tầm thường của cuộc sống. Sự đụng độ này gây nên cái phản ứng lập dị rất đặc biệt nơi giới trẻ, lập dị trong ngôn ngữ, trong cách điểm trang và phục sức , mà xét cho cùng, đó chẳng qua chỉ là phương thế để người bạn trẻ tự minh xác và bảo vệ cái tôi của họ trong hoàn cảnh khó khăn (là phải bước vào thế giới mình muốn tham dự một cách hoàn toàn song chưa đủ khả năng bao quát).

Xét về mặt đạo đức, cái phản ứng tự vệ của người bạn trẻ sẽ đặt vào trong một bầu khí bất ổn chứa đầy mâu thuẫn, giao tranh. Thực tế cho chúng ta thấy những va chạm thường thi nhau tiếp diễn về bất cứ một sự gì hay có khi lại không vì gì cả. Thường thường , sự đụng độ giữa thanh niên và cha mẹ chỉ do sự bất mãn của thanh niên khi xin tiền mà không có, muốn ăn mặc theo sở thích mà không được,muốn tự mình chọn bạn mà cha mẹ không cho, muốn đi dạo phố buổi chiều mà cha mẹ ngăn cấm.. Sự đụng độ này thường kéo theo một số phản ứng đôi khi thô bạo hay bất nhã mà chúng ta nên hiểu như những lối thể hiện vụng về và khốn khổ của một cái tôi đang cảm thấy mình bị đe dọa và muốn trở thành tuyệt đối.

Thế nhưng, thế giới hữu hình này lại được dệt bằng những cái tương đối, và ngay cả khi ước muốn trở thành tuyệt đối, người bạn trẻ cũng vấp phải trên chính bản thân mình những cái hoàn toàn tương đối. Do đó mà có sự dao động của tuổi thanh niên, có cơn khủng hoảng Ềgiải phóngỂ thể hiện qua lối sống ngang tàng hay qua những tràng cảm nghĩ đen tối khiến người bạn trẻ mới hôm qua là đứa con ngoan của gia đình, là một học sinh gương mẫu của lớp , nay trở thành một thanh niên (hay một thanh nữ) ương ngạnh đối với cũng chính môi trường ấy. Phải chăng vì cái vũ trụ trước đây khi người thanh niên hay thanh nữ còn thơ bé , đã được xem như là vững chãi và có hệ thống thì nay lại xuất hiện với họ như là biến dịch bất tận và chứa chấp những đợi chờ lo lắng ? Phải chăng vì trước đây phục tùng quyền bính được xem như là bảo đảm chắc chắn cho sự an toàn đạo đức cá nhân, thì nay người thanh niên lại cảm thấy như bị thôi thúc phải đi tìm sự an ninh ấy bằng một thái độ khước từ và phản kháng ? Làm sao cắt nghĩa được sự biến đổi sâu sa ấy trong lối nhìn của thanh niên thanh nữ về cuộc đời và về chính họ? Tôi nghĩ rằng sự biến đổi ấy phải được cắt nghĩa bằng cái nhu cầu sống tự lập của họ, muốn tự mình xây dựng lấy đời mình. Mà thực vậy, vào thời này người thanh niên thanh nữ như Ỷ thức ra một bổn phận mới cho nếp sống thiêng liêng và đạo đức của mình,phải đạt tới mẫu người lỶ tưởng bằng nỗ lực của chính họ. Nhu cầu tự lực này nếu được hướng dẫn, sẽ phát triển một cách bình thường, tích cực và lành mạnh (trường hợp sinh viên đi làm để khỏi phiền đến cha mẹ..) Trái lại, nếu chỉ nghe theo sở thích của tình cảm, nhu cầu này có thể phát hiện một cách tiêu cực và bệnh hoạn. Trường hợp thanh niên muốn đốt giai đoạn, nhảy vào cái thế giới của người lớn (phim ảnh, sách báo, kinh nghiệm) sớm quá, chưa được chuẩn bị.

Lại nữa, nếu thanh niên, theo định nghĩa là con người chống đối (l'adolescent est un opposant) ấy chỉ vì : Chưa đủ sức tạo cho mình một cá tính đầy đủ, người thanh niên đã có một Ỷ chí rõ rệt là không muốn giống người khác. Nhân cách của họ, trước khi đạt được một lối thể hiện tích cực phong phú, sẽ bắt đầu bằng thái độ tiêu cực và chống đối.

Sự chống đối kéo theo nhu cầu lẩn thoát rất đặc biệt của tuổi trẻ, và đời họ phải vượt qua bên ngoài. Ra đâu? và ở đâu ra? Ố Thưa: trước tiên là ra khỏi chính họ . Sự Ềra ngoài’ này cắt nghĩa được phần nào lỶ do vì sao thanh niên thanh nữ khó tự chủ, khó tự kiểm điểm và tự điều khiển lấy mình. Vì rằng, tự điều chế, tự chỉ huy bao hàm rằng con người phải thực hiện một sự thắng vượt những sở thích ngông cuồng để tiến vào chiều sâu của tâm linh đạo đức. Còn hỏi "ra đâu?" Tôi xin trả lời:

Thường thường, thanh niên sẽ ra ngoài đường phố, tức đi vào cái vũ trụ náo động và xê dịch của loài người.

Thanh nữ thì thích đi vào cái vũ trụ lặng lẽ mơ màng và tưởng tượng để ở đó dệt những mộng vàng mơ ước ngày mai.

Nhưng, tại sao lại phải lẩn thoát chính mình và cảnh sống của mình để tìm ra bên ngoài như thế? Thưa: vì tuổi trẻ có khuynh hướng đổ trách nhiệm cho môi trường mình sống khi họ gặp phải khó khăn (khủng hoảng nội tâm, bất trắc ngoại tại). Khi đó, điều gì không xuôi chảy, ấy là vì cha,vì mẹ,vì anh, vì em, vì thầy, vì bạn. . .chứ không bao giờ hay rất ít khi vì mình.

Tâm lý học cũng cắt nghĩa nhu cầu lẩn thoát của tuổi trẻ như ước muốn được thoát khỏi tầm tay của người lớn, khỏi sự điều khiển của người lớn. Cho dù người lớn có hòa đồng vui vẻ cùng họ, họ vẫn cho rằng người lớn vẫn không thật, người lớn cứng cõi, người lớn nghiêm khắc, hay gì gì nữa. . .ấy chỉ vì người lớn, dưới mắt tuổi trẻ, là hiện thân của quyền bính. Chỉ có thế thôi.

Vâng, chỉ có thế thôi, nhưng điều đó cũng đủ để lật đổ cả hệ thống giá trị ngàn xưa và nêu lên một khuyết điểm khác của tuổi trẻ:  tính khí bất thường hay thay đổi của họ. Mới hôm qua Trung đề cao một nhân vật,Trung tưởng như mình có thể liều chết để bảo vệ danh giá cho người mình ngưỡng mộ, thì hôm nay Trung lại chỉ trích thậm tệ cũng chính nhân vật ấy và cho rằng việc ngưỡng mộ đó, đề cao của mình ngày hôm qua là một việc làm phi lỶ điên rồ.

Nói như thế không phải bảo người trẻ sống một cách lạnh lùng chai đá. Không, không ai "si tình" bằng thanh niên thiếu nữ, mặc dù lối si tình của họ có tính chất nhất thời và cực đoan như chính tính tình của họ. Tất cả những khó khăn của tuổi thanh niên đều thoát thai từ tình trạng thiếu thăng bằng của họ. Một tình yêu muốn được bền bỉ cần được thao luyện theo một kỷ luật nào đó, mà người thanh niên lạI xem kỷ luật như một gánh nặng cần phải quăng đi. Hôm qua còn bé bỏng , người bạn trẻ cần được yêu thương. Tình yêu thụ động trước đây nhường lối cho lối tình yêu chủ động. Tình yêu này bắt đầu thể hiện bằng cách chối bỏ tất cả những thứ tình cảm tự nhiên vẫn có từ trước , đặc biệt đối với gia đình để hướng về phía bạn bè. Giai đoạn này sẽ thấy xuất hiện những tình cảm riêng tư khắng khít, cần được hướng dẫn để khỏi rơi vào lầm lạc cực đoan.

Tình yêu này, người bạn trẻ không chỉ đem trao tặng cho những con người sống động như mình, đồng phái hay khác phái với mình, mà còn đem phân phát cho cho cả thế giới sự vật, như một lý tưởng, một phong trào vv. . . Tuổi trẻ, trong nhiều trường hợp, là tuổi của bất lực nhưng cũng là tuổi của Ỷ chí hào hùng. Bất lực đối với gia đình , người thanh niên lại có thể làm tất cả cho cộng đồng bên ngoài. ễch kỷ đối với gia đình, khép kín trước cha mẹ, thì ngược lạI, họ tỏ ra cởi mở, hào hiệp với bạn bè, quảng đại và tận tụy đối với đoàn thể họ gia nhập (hướng đạo, công giáo tiến hành vv. . .).

Một khuynh hướng khác của tuổi trẻ được ghi nhận: Khuynh hướng cảm phục. Người thanh niên dễ đả phá nhưng cũng dễ nghiêng mình trước tài ba và giá trị. Nhưng đâu là giá trị đích thực phải kiếm tìm, đó mới là điều quan trọng. Vì thực tế ngày nay cho chúng ta thấy, và đây là một sự kiện đau thương gây ưu tư cho bao kẻ thức thời và nhà giáo dục, rất nhiều thanh niên thiếu nữ, thay vì đi tìm những giá trị, lại đắm mình trong những cuộc vui chơi dưới mức tầm thường. Lầm giá trị ? hay cố gắng tìm dẽ dãi ?

Tuổi thanh niên cũng là tuổi kém tin tưởng. Trên phương diện tín ngưỡng, phần nhiều những thắc mắc, những khó khăn, những vấn nạn không được diễn đạt rõ ràng, nó ấm ức bên trong và gây nên một sự dồn ép nội tại, khiến cho thế quân bình của người trai trẻ thêm sa sút. Sự dồn ép đó một khi được giải tỏa bằng đối thoại chân thành và bằng thiện chí học hỏi thì những thái độ tiêu cực trước sẽ biến thái, nhường chỗ cho một lối sống tích cực, phong phú hơn nhiều. Biết bao nhiêu gương mặt hào hùng xuất hiện từ cuộc "trở về" này đã được ghi nhận trong những trang sử Công giáo qua cuốn "Les convertis du 20è siècle"! Do đó, trả lại hay làm sáng tỏ niềm tin cho thanh niên, không phải là một ảo vọng vì tuổi thanh niên, theo tôi . . . trước hết là tuổi hi vọng , tuổi của những dự ước bao la. Trong thanh niên tiềm tàng một khả năng dâng hiến khiến họ nhìn đời như quá chật hẹp không chứa nổi hoài bão vô biên của mình. Thanh niên, xét theo khía cạnh này, là một con người tuyệt đối. Và vì là tuyệt đối nên họ quan niệm rằng cái thế giới vừa mới vừa rộng mà họ muốn đi vào để đóng vai trò trọng yếu cho bản thân, phải không chứa đựng một điều chỉ khiếm khuyết. Thế nhưng, thực tế cho thấy cái thế giới đó còn khiếm khuyết và những người gần gũi họ, cách riêng, cha mẹ họ cũng không " hoàn toàn " như họ tưởng, hay đúng hơn như họ muốn. Thế nên, thời chuyển tiếp này gặp nhiều khó khăn, ngay cả trong bầu khí xã hội và gia đình bình thường.

Tất cả những nhận xét trên đây về thái độ của người thanh niên trước cuộc sống đã hé mở cho ta thấy khá nhiều nguyên nhân cắt nghĩa vì sao tuổi trẻ hay mơ mộng . Ta có thể tóm lại thành 4 nguyên nhân chính:

1. Tuổi trẻ hay mơ vì mơ bao hàm một sự bất mãn với hiện tại.

Cuộc chạm trán xung khắc với thế giới thực tế (gia đình, học đường, xã hội) khiến tuổi trẻ thường tìm bù đắp những nỗi lo âu của mình bằng mộng tưởng.

Mơ, đối với tuổi trẻ, chẳng khác nào "vừng thái dương có thể mang những màu sắc quyến rũ nhất bao phủ lên một khoảng đất cằn cỗi nhất, một cuộc đời buồn tẻ và đen tối nhất".

2. Tuổi trẻ hay mơ vì mơ trả lời cho nhu cầu lẩn thoát của họ, nghĩa là nhu cầu được thoát ra ngoài cảnh sống thực sự.

Họ mơ qua sách vở, báo chí, phim ảnh, mơ để lẩn thoát thực tại, có khi để lên án thực tại. Họ mơ để khai triển những khuynh hướng bị dồn ép hay những tiềm thể chưa được mãn nguyện.

3. Tuổi trẻ hay mơ vì mơ đi kèm với ý định dự liệu tương lai, mơ xuất hiện khi con người bận tâm vạch một đường tiến vào ngày mai. Ngay cả khi trong mơ mộng người bạn trẻ cố xây những lâu đài trên không trung chăng nữa thì tựu trung cũng là những biểu thị về tương lai qua mơ mộng, ta thấy biểu hiện Ỷ chí của một người muốn nắm lấy tương lai. . . và làm chủ đời mình.

4. Tuổi trẻ hay mơ vì mơ trả lời phần nào cho nhu cầu tuyệt đối của họ. Đây ta lắng nghe tiếng nói của một người bạn trẻ:

"Ta đợi người đây, tuyệt đối ơi!
  Dẫu xa, xa cách mấy phương trời. . ."

Vì rằng:

"Ta lớn lên, bước đường không giới hạn
  Có lẽ đâu kìm giữ bởi tay người
  Tuổi hoa hồng kiêu hãnh của ta ơi
  Tình đã hẹn ở trên đường nắng mới!. . ."
                                    (Đinh Hùng, Khi mới lớn)

Nói rằng mỗi tâm hồn trẻ là một nhân chứng đặc biệt của Đấng vô hình, điều đó thiết tưởng không quá đáng khi ta nghĩ đến cái khả năng dâng hiến tiềm tàng trong họ khiến họ có thể sống chết vì một giá trị, một lỶ tưởng. Nhu cầu tuyệt đối này được minh chứng rõ rệt qua câu nói huyền nhiệm của Thánh Augutinô: "Tâm hồn tôi thao thức cho đến bao giờ được yên nghỉ trong Chúa mới thôi".

III. Tuổi trẻ hay mơ?

Kết quả của hơn một nghìn bản thăm dò Ỷ kiến cho biết: Hầu hết thanh niên nam nữ đều mơ một tương lai sáng lạn, trong đó có ái tình được thành tựu, sự nghiệp được vẻ vang. Một số bạn trẻ mơ đất nước được thanh bình, xã hội tốt đẹp; một số khác nuôi hi vọng đạt chí lớn, hoàn thành mẫu người lỶ tưởng trên hai phương diện đạo đức và tôn giáo.

IV. Mơ có một giá trị nào không?

Thường thường người ta tỏ ra nghiêm khắc đối với những con người mơ mộng . Như Julien Green đã có lần tuyên bố:"Những đại lộ của mơ màng là nơi các tà thần ưa đi dạo". Tuy nhiên, một sự lên án tuyệt đối thiết tưởng sẽ là bất công.

Đành rằng mơ mộng viễn vông là vô ích, có khi còn thiếu lành mạnh nếu nó chiếm hết cả nghị lực con người

Đây, ta nghe Phạm Hầu nói lại với chúng ta cái kinh nghiệm đáng buồn của ông:

"Thuở nhỏ đêm nằm mơ thấy bướm
Giờ không mơ bướm lại mơ thơ
Đời tôi nếu rụng bao nhiêu sắc
Cũng bởi vì tôi quá mộng hờ"

Nhưng, nếu chúng ta không thể lên án thứ mơ mộng xen vào những khoảng của hành động để bù đắp những xấu xa của cuộc thế, thì làm sao ta có thể khai trừ mà không xem như bình thường và hữu ích thứ mơ suy tư về hành động, thứ mơ chuẩn bị cho hành động? Những bậc vĩ nhân, những nhà hoạt động, các triết gia đều đã chẳng có những giờ mơ mộng của họ sao? Quả thực, lịch sử nhân loại đưa ra hai con đường thẳng song song:

Một bên: những thi nhân, nghệ sĩ , triết gia và các vị thánh; những con ngưòi mơ mộng.

Một bên: những nhà chinh phục và một bên: những kẻ hiền hòa.

Hai bên song hành lặng lẽ, đôi khi gặp nhau, ảnh hưởng trên nhau một cách nào đó. Nhưng có khi con người sắt lại làm cho bầu khí trở thành ngột ngạt đối với kẻ hay mơ: Ta nhớ Thánh Phanxicô nghèo khó đã phải từ giã thành Assise ra đi. . . Tư tưởng và mơ mộng đôi khi phải chịu số kiếp lưu đày: ta nhớ thời kỳ các nhà Bác Học và các nhà Nhân Bản học Hy Lạp phải di cư sang Âu Châu khi người Thổ Nhi kỳ chiếm giữ thủ đô Constantinople. . . Con người sắt có thể giết chết con người mộng song giấc mơ của người bị giết sẽ kéo dài trong kẻ khác như một âm thanh bất tận. . .

Tất cả những gì ta gọi là văn minh nghĩa là cái làm nên vẻ đẹp cao quí của con người đều thoát thai từ mơ mộng. Ngay cả nền văn minh kỹ thuật cũng phát xuất từ mơ mộng, chính vì trong mơ mộng mà những khám phá vĩ đại của khoa học đã phát hiện. Một người thợ, xét về mặt nhân loại, chỉ có giá trị khi họ mơ mộng. Tôi muốn nói: Một người thợ chỉ vượt qua con kiến hay con ong khi anh biết đem vào trong nghề nghiệp của anh một ít tinh thần chiêm ngưỡng, nghĩa là cái Ỷ thức của anh về sự đẹp.

V. Đâu là thái độ đúng đắn của con người trước những giấc mơ bị tan vỡ?

Một trong những vấn đề thương đau nhất của kinh nghiệm loài người là ít khi thấy những dự ước mình thành tựu. Những hi vọng của buổi thiếu thời và những hứa hẹn của buổi trưởng thành chúng ta là những bản hòa âm còn dang dở. Trong một bức họa thời danh, George Frédéric Watts đã vẽ hi vọng như một nhân vật lặng lẽ ngồi trên chóp đỉnh của một hành tinh, đầu cúi xuống một cách buồn rầu và tay đang bấm một dây đàn phong cầm duy nhất còn nguyên vẹn. Trong chúng ta, ai là người chưa có kinh nghiệm cái đau xót khi thấy hi vọng của mình bị tan vỡ và những giác mơ của minh bị hủy diệt?.

Chúng ta đã phản ứng như thế nào?

Một phản ứng đầu tiên có thể là: chua chát, oán hận. Người phản ứng theo lối này sẽ có một thái độ lãnh đạm,một quả tim lạnh và một niềm oán hận chua cay đối với Chúa, đối với mọi người sống quanh họ và đối với chính họ. Không thể đẩy Chúa đi cũng không thể xê dịch cuộc đời, họ biến oán hận thành thù nghịch đối với con người khác. Họ không xin ai cả mà cũng không màng xin ai tình thương. Họ không tín nhiệm vào ai và cũng chẳng chờ mong ai tín nhiệm vào mình.

Loại phản ứng này đầu độc tâm hồn và phá hủy nhân cách. Không gì làm hại con người bằng phản ứng đó. Khoa y dược cho ta biết những chứng bệnh như: sưng khớp xương, bệnh ung thư dạ dày và bệnh suyễn đôi khi đã khởi phát bởi những tâm tình chua cay oán hận. Loại y khoa chuyên trị những bệnh thể xác thoát thai từ một khiếm khuyết tinh thần cũng cho chúng ta thấy một sự oán hận xâu xa có thể gây nên một sự đau yếu trầm trọng  của cơ thể.

Một phản ứng thứ hai khá thông thường là những người đã sống cái kinh nghiệm đau buồn thấy mộng mình tan vỡ thì hoàn toàn khép mình lại. Họ không chấp nhận ai trong cuộc đời mình và cũng từ khước không đi vào cuộc đời của ai. Những người này đã bỏ cuộc trong cuộc giao tranh với sự sống, họ mất hứng thú về cuộc đời và muốn thoát ra ngoài vòng cuộc sống. Quá vô tư để yêu thương và quá lãnh đạm để ghét bỏ, quá vô tình để trở nên ích kỷ, quá cứng cỏi để cảm thấy niềm vui và quá lạnh lùng để cảm thấy phiền muộn, họ không sống cũng chẳng chết, họ chỉ "có đấy" mà thôi, nghĩa là họ chỉ đi vào hiện hữu như viên sỏi kia hiện hữu ngoài sân.Mắt họ mờ đi trước cảnh đẹp của thiên nhiên, tai họ đóng lại trước những âm thanh của nhạc hòa tấu và ngay đến bàn tay họ cũng trở nên chai đá trước sự vuốt ve êm dịu của một trẻ thơ. Trong họ không có gì còn lại của cái đã làm nên cuộc đời. Cái còn lại, phải chăng đó chỉ là những cử chỉ vô hồn của một cuộc sống trơ trụi?

Phản ứng này phát xuất từ Ỷ muốn chối bỏ sự sống. Những nhà tâm bệnh học bảo rằng phẩm cách của những người lẩn trốn cuộc sống thực tại trở nên yếu dần để đi tới chỗ biến mất hẳn.

Một phản ứng thứ ba trước những ngang trái của cuộc đời là chấp nhận thuyết định mệnh, theo đó mọi sự đến như phải đến và tất cả những biến cố đều được chỉ định một cách tất yếu. Người có phản ứng này sẽ đi đến chỗ thoái vị trước cái mà họ gọi là định mệnh, họ tự xem mình như những đứa trẻ mồ côi bị lạc lõng trong không gian mênh mông, ghê rợn, bởi họ tin rằng con người không sử dụng được tự do nên họ đã thoái thác trước suy tư và quyết định, để mặc cho những biến cố bên ngoài quyết định dùm họ.

Họ không bao giờ tích cực cố gắng đổi thay hoàn cảnh của cuộc đời mà chỉ thụ động để hoàn cảnh cuốn đi. Thái độ này là một sự tự vẫn tinh thần và tâm lỶ. Bởi vì tự do thuộc bản tính của nhân loại, người chủ trương thuyết định mệnh, chối bỏ tự do, sẽ không còn là người nữa mà chỉ là một hình múa rối.

Vậy thái độ đúng đắn phải có sẽ là:

     Thái độ tích cực của Jérémie: "Đó là một tai họa đến với tôi, tôi vui lòng cam chịu"

     Thẳng thắn nhìn vào những mảnh vở của giấc mơ. Lẩn tránh vấn đề bằng cách xua đuổi sự thất vọng khỏi tâm trí sẽ đưa tới sự dồn ép tâm linh, bất lợi. Trái lạI, hãy tự đặt mình trước sự thất bại và suy xét một cách can đảm ỂLàm sao tôi có thể đổi trở ngại thành một điểm khởi hành mới?Ể.

Hầu hết những gì xảy đến cho ta đều được dệt theo Ỷ định của Thiên Chúa. Nghĩ như thế có thể kết nên những mối dây thiện cảm. Nghĩ như thế có thể bẽ gãy kiêu ngạo của chúng ta. Thánh giá tạo nên do sự ác độc của loài người lại được dệt nên bởi Thiên Chúa trong tấm thảm cứu chuộc thế gian.

Trong số những nhân vật ảnh hưởng lớn nhất trên thế giới, nhiều người đã biến đổi chông gai thành những vòng hoa chiến thắng. Charles Darwin bị một chứng bệnh kinh niên. Robert Louis Stevenson bị nhiễm trùng lao, Heller Keller, vừa điếc lại vừa mùẨ tất cả đã phản ứng không mảy may chua chát, cũng không buông xuôi cho định mệnh, trái lạI, nhờ Ỷ chí dũng cảm của mình, họ biến đổi những hoàn cảnh tiêu cực thành những nền móng tích cực. Người viết tiểu sử của Georges Fredéric Haendel đã ghi những dòng chữ như sau:

"Sức khỏe và gia tài của ông đã xuống tới độ thấp nhất. Cánh hông bên mặt của ông đã bị tê liệt và tất cả tiền tài của ông đã bị mất sạch. Chủ nợ đến bắt ông tại nhà và đem ông đi tống ngục. Trong giây lát, Frederic Haendel bị cám dỗ bỏ cuộc tranh đấu với đời... nhưng ông đã kịp phản tỉnh và viết nên tác phầm vĩ đại: "Đấng Messia".

"Tôi hi vọng gặp anh em khi tôi đến Bồ Đào Nha" (Rom 15,24). Một trong những giấc mơ tha thiết của Phaolô là đến Bồ đào Nha để rao giảng Tin Mừng. Trên đường về, ngài ao ước sẽ được tiếp xúc trực tiếp với nhóm giáo dân can đảm thành Roma. Càng nghĩ tới điều ấy bao nhiêu lòng thánh nhân  lại sung sướng bấy nhiêu. Hành lỶ của ngài đã được chuẩn bị và Phaolô chỉ còn chờ đợi giờ tốt đẹp để đem Tin Mừng đến thủ đô La Mã và Bồ Đào Nha, trang trọng lần lên những bậc cấp của Đế Quốc.

Hi vọng dạt dào biết mấy! Song chẳng bao giờ Phaolô đến La Mã đúng như lòng Ngài mơ ước. Bởi Đức Tin dũng cảm của ngài vào Đức Kitô, Phaolô đã đến La Mã thật, nhưng đến với tư cách là tù nhân, để sau đó bị cấm cố trong xà lim nhỏ hẹp. Chẳng bao gìơ Phaolô được đặt chân trên những con đường đầy bụi của Bồ Đào Nha. Chẳng bao giờ ngài được trông thấy những sườn núi lượn quanh và đời sống sầm uất của xứ này. Phaolô đã được điệu dẫn đến cái chết, chết để minh chứng tấm lòng chung thủy của ngài với Đức Kitô. Cuộc đời của Phaolô là lịch sử thương tâm của một giấc mơ bị tan vỡ.

Nhưng, vẻ đẹp hào hùng và huyền nhiệm của Phaolô là ở chỗ ngài đã biến ngục thất của mình thành nơi cứu độ. Trong cuộc hành hương vừa qua tai La Mã, tôi đã được hân hạnh trở lại viếng ngục thất của vị Tông Đồ Dân ngoại lần thứ hai. Nơi đây người hướng dẫn khách hành hương đã cho chúng tôi biết thánh nhân đã cải hoán chính nơi đây và rửa tội năm trăm người cùng chung số phận với ngài. Cho hay mọi cuộc sống cao thượng, có ý nghĩa đều bao gồm những chiến thắng trên chính mình và trên hoàn cảnh.

                                                                                          Nữ tu Diệu Khánh



English |  Français |  Home |  Links |  Photos |  Name list |  Newsletter |  Vietnamese

cần liên lạc, xin gởi email Sr. Bénédicte Trần Quang Diệu Khánh
Copyright © 1999-2005, thienhuu.org. All Rights Reserved.