Bản Tin |  Danh Sách  |  English |  Français |  Hình ảnh |  Nối kết |  Tiếng Việt |  Trang Nhà

Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc



Cách Ä‘á»c Unicode

  • Ăn chơi
  • Anh từ viễn xứ trở về đây,
  • “Ăn noái” - HLT
  • Ăn sáng
  • Ăn sáng, Ăn trưa…
  • Ăn Tết…, NQB
  • Ăn Tục Nói Phét - HLT
  • Áo gấm về làng
  • Bóng Dáng Trưá»ng Xưa
  • Bài giảng- Cha Lefas
  • Bài thơ: Bạn
  • Bài thơ Noel
  • Bố tôi: Thầy Hùng
  • Cánh đồng bất tận
  • Chiếc xương sườn - HLT
  • Chúng ta đi giữa những mùa Xuân
  • Cơn Bão Charley - Hoài-Nhân
  • Cơn buồn bất chợt - Hoài Nhân
  • Du Lịch - Hoàng Lão Tà
  • Đêm Trăng ở San Francisco - Hồng Thủy
  • Đường Việt Nam: Ng. Đ Quang
  • Già Dịch
  • École de mon Âme - Trúc Huy
  • Ghép nhạc vào I-Meo
  • Gối sóng Hương Giang
  • Hát Nói Ca Trù
  • Hâu...Ăn tục nói phét
  • Hình ảnh Há»p Mặt TH
  • Hoa Dạ Quỳnh
  • Hoa Thủy Tiên
  • Hoài niệm - Hà Thúc Vinh
  • Hỏi hay Ngã - Bích Vân
  • Há»™i An Trong Tôi
  • Hoàng hôn trên phố BOLSA
  • Jeanne d'Arc cá»§a tôi.
  • Làm sao cắt nghĩa ?
  • Linh mục Nguyễn Văn Thích
  • Lời Xuân - LM Nguyễn Th. Phương
  • MC & tiệc cưới
  • Mẹ - Lê Đình thương
  • Mẹ tôi - Hoàng Đức Thạc
  • Mọt sách
  • Một Giấc Mơ Kỳ Lạ - Trúc Huy
  • Một góc Huế xưa - Thanh Vân
  • Mother-Poet by Thomas Hien-dieu-Tran
  • Má»™t nhà truyá»n giáo
  • Mưa chiều Đồng Tháp
  • Mười năm trở lại
  • Năm chó nói chuyện chó
  • Ngày giỗ đầu - Thanh Vân
  • Ngày tựu trường - Hoài Nhân
  • Nhật Ký Huế - TCSơn
  • Ngô Ganh, người nghệ sĩ...
  • Níu kéo tuổi xuân
  • "nói lái"...
  • Ông Cậu Xịa - Nguyễn Quốc Bảo
  • "Panis Angelicus"
  • Père Petitjean-MyHa
  • Phải chăng là tình yêu ?
  • Phong lưu
  • Phở Sài Gòn !
  • Phụ Đính Bài Ăn Thịt Chó
  • Quê Hương - Thanh Vân
  • Quê Hương nơi nào ? -Thanh Vân
  • Quốc Bảo Phong
  • School of my Heart - Truc Huy
  • Sinh Nhật-Hoàng Lão Tà
  • Suốt Đời Còn Yêu - Hồng Thủy
  • Tấm thẻ bài - Thanh Vân
  • Tản mạn về chú cẩu
  • Tạp ghi của Hoàng Lăo Tà
  • Thầm Trách - Thơ: Hồng Thủy
  • Thanh Lam và nhạc Trịnh Công Sơn
  • Tháng năm cổ tích
  • Tháng Tư - Tôn Thất Phú Sĩ
  • Thăm Cụ Nguyễn Mậu
  • Thiên Hữu họp mặt, 2005
  • Thơ anh
  • Thơ Hoàng Lão Tà
  • Thơ Hoàng Lão Tà & toubib Thương
  • Thơ tặng bạn - HLT
  • Tinh Thần MÙA GIÁNG SINH
  • Trang Nhà Cha Lợi
  • Triết lý củ khoai
  • Unikey: Gõ tiếng Việt
  • Về hưu - HLT
  • Việt Nam Con Đường Chúng Ta Đi
  • Với o học trường ma xơ.
  • Hình ảnh Cha Lefas (11/4/2000)
  • Hình ảnh Há»p Mặt Nam Cali"
  • hình ảnh khóa 1969-1971
  • Hình ảnh xưa
  • Hình ảnh xưa 3-july-1999



  • Các bạn thân mến,

    NÉN HƯƠNG CHO BẠN VÕ VĂN HẢI
    Lâm Lễ Trinh

    Trong đời có những vết thương lòng mà thời gian không thể xóùa nổi vì trong vết thương ấy, hình ảnh cái chết đau xót của một người thân là một mối ám ảnh bất tận. Sau gần hai thập niên cố gắng, tác giả bài này mới thuyết phục được chị Nguyễn Khoa Diệu Mai chiụ ngồi kể lại cuộc đời chính trị đầy sóng gió của chồng là cố Võ Văn Hải, cựùu Chánh Văn phòng đặc biệt của Tổng thống Ngô Đình Diệm mà anh từng phục vụ sát cánh nhiều năm, từ lúc ông Diệm bôn ba hải ngoại cho đến khi bị các tướng dưới trướng sát hại dã man ngày 1.11.1963 trong một cuộc đảo chính.

    Anh Võ Văn Hải, sanh năm 1919 tại Hải Lăng, Quảng Trị, là trưởng nam trong một gia đình 13 anh chị em, 6 trai và bảy gái, thuộc bốn giòng con, thân sinh là cụ Võ Vọng, một bạn đồng song với ông Ngô Đình Diệm và từng giữ chức Aùn sát tại Kontum. Tiểu học tại Quảng Trị. Hải học trên tác giả bài này một lớp ở trường trung học Thiên-Hữu, Huế và, sau Túùù tài, ghi tên học luật năm 1942 tại Hà Nội. Từ 1943 cho đếùn 1948,vì chiến tranh, Hải bỏ học đi theo chí sĩ Ngô Đình Diệm hoạt động chính trị trong nước. Năm 1949, Hải sang Pháp, ghi tên học Văn khoa tại Paris, xong chuyển năm 1951 qua ngành chính trị, kinh tế và xã hội, tốt nghiệp cử nhân năm 1953. Hải chuẩn bị lấy bằng Tiến sĩ chính trị tại Đại học Genève nhưng phải bỏ nửa chừng vì vào tháng 5,1954, được bổ nhiệm Chánh văn phòng đặc biệt của Thủ tướng Diệm. Sau vụ đảo chính 1.11.1963, Hải ghi tên vào Đại học Văn khoa Sàigon. Năm 1967, đậu Cử nhân Hán học. Hải viết và nói lưu loát tiếng Anh, Pháp và Hoa (Quảng đông và Quan thoại).

    Chị Hải, nay 85 tuổi, trí tuệù còn rất minh mẩn, tóc điểm sương, gương mặt quý phái, trang sức thanh nhã, đã tiếp vợ chồng chúng tôi tại tầng hai của một cao ốc dành cho người cao niênø ở góc đương First street và Flower, Santa Ana, Californie, trong một căn phòng nhỏ đạm bạc, ấm áp, đầy kỷ vật và tranh ảnh. Với gịong Huế êm dịu, chậm buồn, đôi khi nghẹn ngào vì cảm xúc, chị đã trả lời tất các câu hỏi của tội một cách chân thành, cởi mở.

    Chị Diệu Mai – chúng tôi thường thân mật gọi chị như thề - là trưởng nữ thuộc giòng lớn trong một gia đình vọïng tộc Miền Trung, gồm có 13 người con và ba kế mẫu.Thân phụ chị là học giả Nguyễn Khoa Toàn, thi sĩ kiêm hoạ sĩ tài danh, tốt nghiệp trường Hậu bổ như ông Diệm và lớn hơn ông Diệm năm, sáu tuổi. Cụ Toàn từng giữ nhiều chức vụ hệ trọng như Tá lý Bộ học thời Ngự tiền Văn Phòng (tương đương với Thủ tướng) Phạm Quỳnh, Bộ trưởng Giáo dục trong Chính phủ Nguyễn Văn Xuân và Đại sứ ở Thái Lan thời Bảo Đại năm 1949. Khi mới về nước, Thủ tướng toàn quyền Ngô Đình Diệm lưu dụng cụ Toàn ở Bang Kok hai năm trước khi cụ về hưu.

    Sau đây là nội dung cuộc mạn đàm có ghi âm giữa chị Diệu Mai (DM) và tác giả bài này (LLT).

    LLT: Xin chị vui lòng cho biết chị lập gia đình với anh Hải năm nào? Lúc đó anh Hải đã theo cọng tác với chí sĩ Ngô Đình Diệm chưa? Chị biết gì về giai đoạn này? Hải cóø kể lại cho chị biết cụ Diệm bị Việt Minh bắt giữ ở Tuy Hoà vào tháng 9.1945 hay không? và việc Hồ chí Minh mời cụ Diệm tham gia Chính phủ Liên hiệp với tư cách Cố vấn?

    DM: Chúng tôi lập gia đình khá trể. Cuối 1949, ông cụ tôi mới gởi tôi qua Pháp để ở với một người em trai sinh viên y khoa và sẵn dịp, tôi học về coiffure. Lúc đó, tôi đã trên 20. Tại Paris, tôi gặp Hải, một sinh viên nghèo, con trai cụ Aùn sát Võ Vọng. Tôi trở về Việt Nam một năm sau Hải. Chúng tôi kết hôn tại Sàigon ngày 27.10.1955 trong một buổi lễ đơn sơ, không có cụ Diệm tham dự, vì tình hình chính trị lúc đó thật rối rấm, anh Hải rất bận trong chức Chánh văn phòng đặc biệt của Thủ tướng Diệm.

    Anh Hải không nói gì nhiều với tôi về những năm bí mật anh theo cụï Diệm đấu tranh chống cộng ở Việt Nam. Chuyện này xảy ra trước ngày anh du học ở Âu châu. Cụ Diệm cũng lưu vong tại Nhựt, Pháp, Bỉ và Hoa kỳ một thời gian trước khi về nưốc chấp chính theo lời mời ngày 16.6.1954 của vua Bảo Đại.

    LLT: Anh Hải sùng bái chí sĩ Ngô Đình Diệm chẳng những như một lãnh tụ, một người thầy mà còn như một người cha tinh thần (tuy có lúc Hải không hoàn toàn đồng ý dưới vài khiá cạnh). Tổng thống Diệm cũng rất thương và tin cậy anh Hải về mọi mặt. Chị giải thích ra sao mối liên hệ sâu đậäm ấy giữa hai người? Hải gặp cụ Diệm trong trường hợp nào?

    DM: Anh Hải ít đềø cập với tôi trong chi tiết về giai đoạn này (kéo dài từ 1943 cho đến 1948). Tôi chỉ biết sau khi mẹ chết, anh đi tàu qua Luân đôn một thời gian, trở về nước, theo cụ Diệm mà anh khâm phục từ lúc còn là một sinh viên trẻ. Có lần anh kể lại: khi ông Diệm bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà, anh hỏi ông Diệm một cách ngây thơ: “Cụ có muốn con đi theo cụ hay không?” Ông Diệm gạt ngang.

    LLT:Anh Hải ở đâu và đóng vai trò gì trong vụ nhóm Nguyễn Chánh Thi Vương Văn Đông đảo chính hụt ngày 11.11.1960, vụ hai phi công Phạm Phú Quốc, Nguyễn Văn Cử dôi bom Dinh Độc lập vào tháng 2.1962 và các tướng lãnh nổi lọan ngày 1.11.1963? Vài sử liệu có nhắc đến chuyện Tổng thống Diệm giao cho anh Hải điều đình với phe phiến loạn ngày 11.11.1960. Sự thật ra sao?

    DM: Đây là chuyện khá dài dòng.

    Năm 1960, Hải có tiếp xúc mật với một số thân hữu trong Quân đội Quốc gia bàn về việc làm sao tách Tổng thống Diệm ra khỏi ảnh hưởng của ông cố vấn Nhu. Nhóm Vương Văn Đông-Nguyễn Triệu Hồng đã ra tay bất thần ngày 11.11.1960 vì không hoàn toàn tin nơi Hải. Ởû trong thế kẹt, Tổng thống sai Hải ra truớc cửa Dinh Độc Lậâp thương thuyết với Nguyễn Chánh Thi (gia nhập vào giờ chót, quen với Hải) và Vương Văn Đông đang dàn quân bao vây. Hải phải chạy sồng sộc vô ra nhiều lần trong sân Dinh, dưới họng súng của cả hai bên, để chuyển lời điều đình với phiến quân. Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Khánh có đủ thời giờ về cứu giá. Đảo chính tan rã hàng ngũ. Hải than phiền Tổng thống Diệm - vì có lời phản đối của bà Nhu - không giữ lời hứa sau đó để vợ chồng Nhu xuất ngoại. Cho đến ngày Đệ nhứt Cọng hoà sụp đổ, điều này đã tạo ra nơi Hải một mâc cảm không thành thật trong tư cách sứ giả giàn xếp
    Khi Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử dội bom, Hải không có mặt trong Dinh Đôc Lập. Vài giờ sau, Hải có lái xe chở tôi đi xem vòng quanh Dinh Vưà lái, anh vừa lầm bầm trong miệng “Chết đi cho rồi !”. Có lẽ anh nghĩ đến bà Nhu. Bà Nhu bị thương nhẹ, đi chữa bệnh trong Dưởng đường Trần Đình Đệ.
    Hải cũng không có mặt trong Dinh Gia Long lúc quân đảo chính bắt đầu tấn công từ mọi phiá vào lối hai, ba giờ trưa ngày 1.11.1963. Bửa đó là Lễ Thánh tử Đạo, nghỉ việc. Lúc 4 hay 5 giờ chiều, một sĩ quan hầu cận Tổng thống điện thoại hỏi anh Hải, tôi trả lời Hải không có ở nhà. Đêm Tổng thống và ông Nhu thoát khỏi Dinh Gia Long thì vợ chồng chúng tôi đến tá túc tại nhà một người bạn tên Khương Hữu Cân, ở Quận nhứt. Hôm sau, chính chị Đổ Vạng Lý báo tin cho chúng tôi hay hai ông chết, Hải rất buốn. Tướùng Dương Văn Minh đích thân nói với Hải qua điện thoại: “Anh vô đây làm việc với chúng tôi.” Hải trả lời: “Nếu còn ông Diệm thì tôi vào. Các ông đã giết ông Diệm, tôi không vào được.” Quân đảo chính ra lệnh cho Hải phải đến Văn phòng để “bàn giao”. Anh Hải cự nự: “Đả đảo chính thì cứ việc vào mà lấy, tại sao bàn giao?” Nhưng cuối cùng anh cũng vào trình diện tại Dinh Gia Long. Một số người mang quân phục (trong đó có Bác sĩ quân y Phạm Doãn Để) đang hầm hừ đợi anh trước Văn phòng, ngón tay trên cò súng. Anh làm biên bản trao cho một sĩ quan đại diện tướng Trần Văn Đôn tất cả số bac (tôi không rỏ bao nhiêu) mà Tổng thống giao cho anh cất giữ.
    Cách mạng không tra hỏi và gây khó gì cho anh Hải. Tướng Dương Văn Minh còn ra lệnh trả cho anh ba tháng lương.

    LLT: Sự giao thiệp giữa anh Hải và gia đình Tổng thống Diệm: Đức cha Ngô Đình Thục, hai ông Cố vấn Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, đại sứ Ngô Đình Luyện, đặïc biệt đối với bà Nhu ra sao? Giữa anh Hải và bác sĩ Trần Kim Tuyến có vấn đề gì không?

    DM: Anh Hải kính trọng Đức cha Thục là thầy dạy củ ở Huế. Anh không chỉ trích công khai bất cứ ai trong gia đình Tổng thống, ngay cả ông, bà Nhu mà tôi biết anh không ưa. Đôi khi anh có nóí vắn tắc với tôi: “Bà Nhu lộng hành”. Ít khi Hải tháp tùng Tổng thống đi kinh lý hay về Huế vào dịp Tết. Anh em Tổng thống đoàn kết và rất thương nhau.

    Tôi không biết rỏ mối giao thiệp giữa Hải và bác sĩ Tuyếân, tuy có dư luận cho rằng họ ïbất hòøa. Bề ngoài, đối xữ nhã nhặn. Ông Tuyến cũng có săn sóc một người em của Hải bị bệnh. Chùng tôi không tới lui với vợ chồng Tuyến. Ngay trong cấp bực các Bộ trưởng, Hải cũng tránh giao du thân mật hay phê bình. Chúng tôi đôi khi có tiếp xúc với vài bạn như anh chị dân biểu Ngô Khắc Tỉnh, ký giả Nguyễn Lâu, Khương Hữu Cân...

    Tôi còn nhớ trước 1963 ông Cố vấn Như bảo anh Hải phải phúc trình về có tín tôi, Diệu Mai, liên hệ với nhóm bà Túc (mà thật ra tôi không quen) về “vụ gian lận bán vé số Kiến thiết” (?!). Ông Nhu ra lệnh cho anh Hải phải làm “tờ thú”ù. Nôi vụ chả đến đâu vì không có bằng chứng. Hải rất buồn về chuyện này. Không rỏ vai trò ông Tuyến ở bên trong.Tôi cũng không biếtû Tổng thống có hay chuyện này hay không.

    LLT:Chị có biết Hải đã ủng hộ kín đáo vào cuối 1959 việc tôi (ở Bộ Nội vụ), Trần Chánh Thành (Thông Tin), Trần Trung Dung (Quốc Phòng) và Nguyễn Văn Sĩ (Tư pháp) cho bắt giam một số đảng viên Cần lao – quân sự và dân sự – dính vào vụ Vé số Kiến thiết và Trường đua Phú Thọ hay không? Vụ này dẫn đến sự ra đi của bốn anh em chúng tôi khỏi Nội các.

    DM: Anh Hải không hé môi với tôi về vụ này nhưng tôi có đọc tin trong báo và nghe dư luận đồn.

    LLT: Ông bà Cố vấn Nhu đối xử với anh chị ra sao? Anh chị có tham gia tổ chức chính trị nào không?

    DM: Ông bà Nhu vẫn đối đải tử tế với chúng tôi. Tôi nhớ năm 1958 có một đêm anh Hải lái xe chở hai ông bà và tôi đi xem xi-nê (một phim Pháp) tại một rạp hát bình dân trên đường Lê Lợi. Lúc đó tình hình an ninh còn yên ổn. Chúng tôi đứng coi vì hết chổ ngồi. Chưa hết phim thì ra về. Tôi không biết có an ninh chìm lo cho ông ba Nhu hay không.

    Hải đứng ngoài đảng phái chính trị, không tham gia Cần Lao hay Phong trào Cách mạng Quốc gia. Riêng tôi cũng không gia nhập Phong trào Liên Đới Phụ nữ, viện lẽ bận lo sinh sống với tiệm uốn tóc nhỏ của tôi tại đường Đề Thám Saigon, sau dời về Thương xá Tax. Bà Nhu có đến làm tóc ở đường Đề Thám một lần. Lần khác, bà điện thoại kêu tôi vào Dinh Độc Lập để sửa lại mái tóc cho cô Ngô Đình Lệ Thủy mà bà lỡ tay cắt hư, khiến cho cô Lệ Thủy cằn nhằn.

    LLT: Sau cuộc đảo chính 1.11.1963, anh chị sinh sống ra sao?

    DM: Như nói trên, tiệm uốn tóc của tôi ở Thương xá Tax đủ nuôi sống gia đình lúc đầu. Vì ế ẩm, tôi đóng cửa tiệm năm 1970, làm việc tại nhà. Có lúc anh Hưỳnh Văn Lang, cựu Giám đốc Viện Hối đoái bị thẩm vấn trước Toà án nên có thuê anh Hải đứng tên Phó giám đốc Ngân hàng Đông Á, phụ tá cho cha vợ Lang giữ chức Giám đốc. Lang dọ ý Hải về sốû lương anh đòi. Hải về nhà hỏi tôi mỗi tháng chi phí bao nhiêu mới đủ. Tôi trả lời: trung bình 8000 đồng bạc; nếu xài rộng hơn thì 10.000. Anh Hải thật thà nói với Lang: 8000! Đồng thời, anh đi dạy tại trường Chính trị Kinh doanh Đà lạt của cha Viện trưởng Nguyễn Văn Lập.

    Với số tiền bán tiệm làm tóc Tax, chúng tôi mua một appartement đường Công lý, cho một người Mỹ (có vợ VN) thuê. Khi CS vào Saigon năm 1975,một Trung úy VN (em của người vợ Mỹ) tự tử nơi đó, CS dựa vào lý do để tịch thâu luôn. Đời sống chúng tôi trở nên rất chật vật vì gia đình đông đúc.

    LLT: Năm 1967, anh Hải ra ứng cử dân biểu tại Quân 1 Sàigòn. Lý do nào thúc đẩy và kết quả ra sao?

    DM: Anh Hải bán một miếng đất nhỏ tại Bình Lợi để ra ứng cử dân biểu ở Quận Nhứt, dưới khẩu hiệu… Quốc táng. Anh chủ trương phục hồi danh dự cho cố Ngô Đình Diệm bằng cách tổ chức quốc táng. Anh thất cử. Bầu không khí chính trị không thuận lợi. Anh không buồn và tiếp tục chủ trương nêu cao cái mà anh gọi “Tinh thần Ngô Đình Diệm”.

    LLT:Đến nay, nhiều người vẫn thắc mắc vì sao trước tháng 4.1975, anh Hải lại xoay qua ủng hộ Dương Văn Minh là người diều khiển cuộc đảo chính thành công năm 1963 và được dư luận xem như đã ra lệnh giết Tổng thống Diệm và ông cố vấn Nhu?

    DM: Chính tôi cũng từng than phiền với Hải về chuyện này. Hải trả lời: giúp ông Minh không phải để tìm địa vị mà để thuyết phục ông Minh chấp nhận làm quốc táng cho cụ Diệm. Ý nghĩ này viễn vông nhưng tôi không muốn cãi lẩy thêm. Tôn Thất Thiện cũng xoay qua ủng hộ tướng Minh. Tôi không rỏ chủ đích của anh Thiện mà tôi không được gặp.

    LLT: Tháng tư 1975, anh chị có phương tiệïn xuất ngoại. Lý do nào khiến anh chị không ra đi?

    DM: Người em trai anh Hải đề nghị giúp chúng tôi thoát thân bằng tàu. Anh Hải từ chối vì tin chắc Dương Văn Minh sẽ đưa ra một giải pháp trung lập (!). “Khi trung lập rồi thì chừng nào lại xuất ngoại không được?”, Hải nói. Đây là một dự đoán sai lầm tai hại. Hối tiếc thì quá trể!

    Khi Cộng sản chiếm Sai gon, tôi bực tức, trách móc Hải, đòi tự vẫn và cho biết tôi không thể sống với cộng sản. Để bớt căng thẳng, Hải dấu tôi vụ Trần Chánh Thành (nguyên Bộ trưởng Thông tin và Ngoại trưởng) tự tử bằng thuốc độc tại nhà.

    LLT: Bao lâu sau tháng tư 1975, anh Hải mới bị Cộng sản tống giam? Nhà ở bị tích thâu? Anh chị có bị đi vùng Kinh tế mới hay không?

    DM: Chúng tôi được ở yên hai năm. Con gái của chúng tôi, Mai Anh, lấy chồng tên Khiêm, kỹ sư Phú Thọ, con của cảnh sát trưởng Quận năm, lương hằng tháng của Khiêm là 60 đồng. Chúng tôi sống cực khổ trong nhà đường Phan Đình Phùng (sau đổi thành Nguyễn Đình Chiểu, mướn của Pháp), với một bầy em, cháu của Hải lối 5, 6 người. Hải thất nghiệp nên mỗi ngày tâm tình nhỏ to với Trần Ngọc Hiền, bà con cuả cả hai chúng tôi. Hiền, từ Đà nẳng vào, bám vào chúng tôi từ trước 1975, nhờ tôi tìm cho một việc làm để đở đói. Hằng ngày, Hiền ở lại dùng cơm, tỉ tê với Hải, Hải quá thiệt thà, nói hết. Chúng tôi không ngờ Hiền là cán bộ cao cấp cộng sản nằm vùng từ trước 1975. Chính Hiền tố chúng tôi. Một ngày vào lối nửa năm 1977, thình lình mười tên công an mang súng, xông vào nhà. Hải hoảng, dơ tay đầu hàng. Chúng trói Hải lại và đọc bản án Hải “phản cách mạng” (?). Chúng lục soát khắp nới, tịch thâu đồ đạc, giấy tờ, sách vở trên gác, bắt Hải ký vào biên bản và dẫn về giam ở bót Công an Thành, đường Trần Hưng Đạo. Trong lúc Hải bị tù, CS định gởi tôi đi vùng kinh tế mới. Tôi nằm vạ, viện lẽ bịnh họan và lớn tuổi.

    LLT: Chị có nhờ ai can thiệp sau ngày Hải bị bắt hay không?

    DM: Võ Văn Huế (em của anh Hải, làm việc tại Đài Phát thanh Saigon) có đưa tôi đến Dinh Hoa Lan đường Hồng Thập Tự gặp vợ chồng tướng Dương Văn Minh nhở can thiêp cho Hải. Ông Minh lắc đầu thở dài, nóí: “Tôi chiụ (thua) rồi, chị ơi! Tôi là Tổng thống mà chúng cũng chẳng coi ra gì!” Trước đó, tôi tưởng ông Minh có người em Việt cộng là Dương Văn Nhựt có thể ít nửa giúp một tiếng nói. Tôi thất vọng ra về. Từ đó, không trở lại. Hải đã không nghe tôi khi tôi cảnh cáo anh về chuyện hợp tác với Minh. Hải coi chính trị không phải là lãnh vực của đàn bà.

    LLT: Anh Hải bị đi học tập mấy năm? Tại những trại nào? Chị đi thăm dễ dàng hay không? Xin cho biết trường hợp Hải qua đời tại Tuy Hoà.

    DM: Bảy năm. Trong sáu tháng đầu, Hải bị giam tại Công an Thành phố, tôi không được thăm viếng. Chúng chuyễn Hải qua Phan Đăng Lưu, giữ một năm, mỗi 15 ngày thân nhân được gởi đồ ăn nhưng không cho tiếp xúc. Tại trại Long Khánh do bộ đội canh giữ, các người tù được ra sân trò chuyện và gặp gia đình, nhận tiếp tế mỗi tháng. Hải ở đây hai năm, rồi bị giải ra trại Tuy Hòa. do Công an quản trị. Chế độ Tuy Hoà thật khắc nghiệt. Mỗi ba tháng mới được thăm nuôi. Thân quyến ngồi nói chuyện với tù nhân ở hai đầu một cái bàn dài, dưới con mắt cú vọ của cán bộ. Hải ở Tuy Hòøa ba năm và chết tại đây ngày 22.11.1983 vì thổ huyết. Lần chót thăm Hải là lối một tháng trước ngày này. Mười hôm sau, nhận được thơ thông báo, tôi ra Tuy Hòøa lãnh gói đồ của Hải, không có gì đáng giá, trừ một vài bài thơ bằng chữ Hán của Hải mà tôi trân quý và sẽ đưa cho anh xem. Mả của Hải có ghi số, đễ nhận ra. Về sau, tôi có xin bốc hài cốt để hoả thiêu.

    Sau này, tôi có gặp một bạn tù của Hải. Y cho biết khi Hải ngất xiểu và hấp hối, cán bộ đưa Hải về phòng y tế, viên y tá trực không biết xử dụng một ống thuốc nước nên giao cho một tù nhân xì ke chích cho Hải, Hải tắt thở cấp tốc. Thật đau lòng!

    Chị Diệu Mai trao cho người viết xem “Biên bản Phạm nhân chết” lập ngày 22.11.1983 tại Phân trại B, trại Xuân Phước, tỉnh Phú Khánh, mang chữ ký củûa Cán bộ thường trực Phạm Hùng Sơn, Y bác sĩ Phạm Hùng và Phó giám thị Tạ Duy Huy. Tài liệu này ghi: “Võ Văn Hải, trú quán 112 nguyễn Đình Chiểu, Thành phố Hồ Chí Minh, bị bắt ngày 10.1.1977, can tôi “tổ chức phản cách mạng, Mặt trận Quốc gia Kháng chiến VN, chết hồi 20 giờ 15 ngày 22.11.1983, vì chứng bịnh Suy tim, Hen phế quản, lao phổi, mai táng tại Nghĩa điạ phân trại B-02B, số mộ:176, Những thứ còn lại: còn có một số đồ.”

    LLT: Chị rời Việt Nam năm nào? Tại Hoa kỳ, chị liên tục sống ở đâu? Chị có về VN lần nào chưa? Những mơ ước cuối đời của chị? Xin cho biết, nếu tiện, kỷ niệm sâu đậäm nhứt của chị về anh Võ Văn Hải.

    DM: Tôi qua Hoa kỳ đoàn tụ gia đình năm 1990, sau gần mười năm làm giấy tờ xin xuất ngoại, với lá đơn mang tên anh Hải nạp lúc còn sống.Thủ tục bị ngưng một thời gian. Năm 1981, trước khi Hải chết (1983), người rể chúng tôi tên Liêm vượt biên qua Úc, xin cho vợ đoàn tụ (1985). Liêm qua đời (1986), CS đòi lấy nhà cửa, tôi khủng hoảng tinh thần nên bị tai biến mạch máu não, nằm nhà thương một thời gian, rôi mới được giấy xuất ngoại qua Maryland, do người em là Nguyễn Khoa Thịnh Anh bảo trợ. CS cho mỗi người ra đi mang theo một lượng vàng phòng thân. Tôi vỏn vẹn có 8 chỉ trong túi. Không có bạc mặt. Một năm sau, tôi chuyễn sang Úc sống sáu tháng với con gái nuôi Mai Anh. Cuối cùng, tôi định cư tại Little Saigon, Californie, có khí hậu tốt và một số bạn bè. Thật là một số mạng phiêu bạt!.

    LLT: Trong số các kỷ vật trong phòng mà chúng ta ngồi nói chuyện hôm nay, chị trân quý gì hơn hết?

    DM: Những cuốn albums gia đình xưa củ, đặc biệt bút tích của Hải trong những các bức thơ và bài thơ chữ Hán nhận được từ trại giam. Các em tôi đã tốn tiền để mang ra ngoài Việt Nam một số tranh vẽ của ông cụ tôi và kỷ vật khác. Chúng đã tăïng tôi một bức họa sơn dầu của tôi do ông cụ tôi thực hiện khi tôi trên 30 tuổi, một portrait bán thân của tôi bằng phấn màu với chử ký tên của hoạ sĩ Nhan Chí, một tấm sơn mài do Nguyễn Gia Trí sáng tác riêng cho anh Hải. Sống giữa những món đồ yêu quý ấy, lòng tôi thấy ấm áp phần nào.

    LLT: Để kết thúc, xin chị vui lòng, dựa vào ký ức, nhắc lại nếu tiện, vài đậc tính của con người Võ Văn Hải. Cũng xin chị nêu vài kỷ niệm đau buồn vể giai đọan cuối cuộc đời của Hải.

    DM: Các bạn thân đôi khi xem Hải như một anh “Đồ Gàn” đáng mến giữa thời văn minh. Có lần anh đi theo tôi ra chợ Sàigòn. Thấy tôi trả giá, anh cằn nhằn: “Trả giá hoài, người bán còn gì mà ăn?”. Không bao giờ anh cho tôi xử dụng công xa, dù có đi chung với anh, sợ mang tiếng. Tôi nhớ có lần anh bảo tôi thuê taxi đi sau công xa (trong đó anh ngồi) để cả hai đi đến một buổi lễ nhà nước. Tại nhà, anh luôn luôn xuất tiền riêng mua dụng cụ văn phòng để dùng như máy đánh chữ, bút, mực..v..v..mặc dù có thể lấy hay mượn của Chính phủ. Chúng tôi sống chật vật với số lương của Hải 7.000 đồng một tháng, Hải không bao giờ mở miệng than phiền.

    Lúc Hải bị giam, có nhiều kỷ niệm khó quên. Thí dụ: những chuyến đi thăm nuôi quá khổ sở, tủi nhục tại Tuy Hoà.Mỗi lần muốn lén đưa thuốc cho Hải dùng, tôi phải nấu mỡ, nhét thuốc vào đáy hộp, để cho mỡ đông lại, cán bộ không để ý xét. Tôi luôn luôn chuẩn bị hai giỏ đồ ăn, Hải chỉ lấy một, nhường một cho tôi. Khi thấy bạn tù đói khát, anh chia xẻ tận tình.

    Tôi cũng không quên được những chuyến đi thăm Hải từ Saigon ra Tuy Hòa bằng xe lửa.Trên những toa xe chật ních, bẩn thỉu nhiều khi thiếu chổ đến nổi tôi phải đứng trên một chân,mỏi quá thí thay đứng trên chân kia, đau nhức không thấu vì tôi bị phong thấp kinh niên. Có những đoạn sông phải vượt qua dưới cơn mưa lũ trên những chiếc cầu hư sụp, xiêu vẹo, gập ghềnh. Thật là một ác mộng đối với tôi, một mình một thân.

    Tôi chưa trở về Việt Nam lầân nào cho tới nay. Khi đất nước không còn cộng sản, tôi mơ ước được chết tại Quê hương. Anh Hải thường nói với tôi rằng anh trọng Chúa, kính Phật nhưng “Đạo Làm Người” vẫn là trên hết. Ba chục năm đã qua, hình ảnh Hải sống mãi trong lòng tôi: một người chồng nuôi nhiều lý tưởng cao quý, một chiến sĩ quốc gia can trường, một cá nhân ôn hoà với bạn lẫn thù, một cách xử thế theo lối nho phong. Đôi khi gàn gở, ngây thơ û nhưng luôn luôn chân thật và không câu nệ.

    *******

    Vì tin cậy, chị Diệu Mai có trao cho người viết một tập hồ sơ khá dày mang những bút tích thật cảm động của anh Võ Văn Hải. Hồ sơ gồm một mặt nhiều bức thơ bị thời gian nhuộm vàng gởi cho vợ, con từ các trại Lê Văn Duyệt (Gia Định), Xuân Lộc (tỉnh Đồng Nai), tỉnh Phú Khánh..v..v.. Và mặt khác, một số bài thơ chữ Hán dịch ra tiếng Việt, viết trong lao tù.

    Trong bức thơ ngày 12.12.1977, anh dặn vợ: “ bảo quản tốt áo quần (long não}. Bán hết áo quần của anh để có thêm tiền học cho con. Đừng ngại, vì anh thấy còn dư. Chỉ để lại vài bộ là đủ.”… Trong thơ ngày 26.1.1978 từ trại Xuân Lộc, Hải viết: “Về bộ áo quần bằng vải bao cát, nếu có thể thì may quần dài; nếu đã lở may thì quần đùi cũng được (một bộ mà thôi)” và anh kết thúc với câu: “Vói hy vọng sẽ được khoan hồng về đoàn tụ với gia đình, anh gửi về em và con tất cả nhớ thương của anh.”.

    Bức thơ ngày 4.12.1980, gởi từ trại Phú Khánh, lúc trí tuệ và thân xác của Hải bắt đầu mỏi mòøn, gây cho người đọc nhiều cảm xúc. Hải viết ở đọan chót: “Hy vọng Tết Tây hay Tết ta hay qua đến Lễ kỷ niệm Đảng 51 năm sẽ được khoan hồng thì quá sung sướng. Luôn tin tưởng vào chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước, do đó anh luôn cố gắng cải tạo ngày càng tốt để ngày đoàn tụ được mau tới. Vô cùng nhớ thương.” Hải hoi hóp chờ đợi một ngày về không bao giờ đến.

    Vói sự cho phép của chị Diệu Mai, chúng tôi xin chép lại ba bài tuyệt tác sau đây:

    GẶP VỢ CON
    Quận dử anh nhi đáo ngục đầu
    Bạch y hồng diện lưởng ngưng chââu
    Thiều quang nhân ảnh trầm ly biệt
    Ngả đáo lầu trung nhập mộng sầu.

    DỊCH: Em với con thơ đến ngục đường
    Má hồng áo trắng lệ rưng rưng
    Nắng mai hình bóng người thân hút
    Trở lại phòng đơn bao nhớ thương.

    GIAO THỪA KỶ MÙI CẢM TÁC
    Ngục xá ân cần tống cựu niên
    Sơn phong sầu tẩm khởi song tiền
    Xuân lai khử thị vô tận sắc
    Kim dạ chẩm đầu qui cô viên

    DỊCH: Trong lao đưa tiển năm tàn,
    Ngoài song gió núi miên mang gợi sầu
    Xuân này như củ lẽ nào
    Đêm nay gối mộng xốn xa tình nhà.
    (Tết Kỷ Mùi)
    Trong trại Xuân Lộc

    Tháng 5.1977, vì quá thương nhớ chồng, chị Diệu Mai gởi vào trại giam cho Hải một cành hoa mai nhỏ (trùng với tên của chị). Quá cảm xúc, Hải trả lời bằng bài thơ thanh nhã sau đây được xem như một lời nhắn yêu đương tuyệt mệnh mà âm thanh vẫn vang vọng, thách đố thời gian:

    NHẬN CÀNH MAI
    Liêu tây cách xứ biệt trùng dương
    Nhất nhật tam thu ức đoạn trường
    Hốt tiếp mai chi thanh trúc đạt
    Tri hồi xuân sắc mản tiêu tường.

    DỊCH: Liêu tây cách xứ nghìn trùng
    Ba thu dồn lại vô cùng nhớ thương,
    Cành mai nhắn gởi tin sương
    Tình xuân tràn khắp giòng tương đây rồi!
    (Tháng 5.1977)

    Thủy Hoa Trang
    California
    Ngày 27.8.2006

    - Diá»…n đàn Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc - Linh mục Nguyễn Văn Thích - Má»™t nhà truyá»n giáo - Cha Petitjean


    Cần liên lạc, xin gởi điện thư Hoang Ngoc Huu
    Ãi-Hữu Thiên-Hữu & Jeanne d'Arc giữ bản quyá»n, copyright © 1999-2006